
Tranh minh họa, không phải chân dung hay tư liệu lịch sử
Sự kiện lịch sử
Các sự kiện tiêu biểu của lịch sử dân tộc, xếp theo triều đại và thời kỳ, kèm ngày âm lịch và ngày dương lịch quy đổi.
Văn Lang
Truyền thuyếtDựng nước Xích Quỷ
Năm 2879 TCN
Kinh Dương Vương lập nên nhà nước sơ khai Xích Quỷ, đặt nền móng cho thời đại Hồng Bàng. Lãnh thổ buổi đầu được sử cũ mô tả trải rộng từ hồ Động Đình đến Nam Hải. Vua kết duyên cùng Thần Long sinh ra Sùng Lãm.
Truyền thuyếtLạc Long Quân nối ngôi
Năm 2793 TCN
Sùng Lãm nối nghiệp cha xưng hiệu Lạc Long Quân, tiếp tục mở mang cõi đất phương Nam. Ngài ra tay trừ khử Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh để bảo vệ dân cư và khai hóa nghề nông. Thời kỳ chứng kiến bước chuyển mình mạnh mẽ của tộc người Lạc Việt.
Truyền thuyếtThành lập nước Văn Lang
Năm ~TK VII TCN
Con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua, định đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Vua thiết lập tổ chức nhà nước với Lạc Hầu, Lạc Tướng, chia nước thành 15 bộ và truyền ngôi qua 18 đời.
Truyền thuyếtSự tích Trầu Cau
Năm Thời Hùng Vương
Câu chuyện cảm động về hai anh em Tân - Lang và người vợ hóa thân thành cây cau, tảng đá vôi và giàn trầu không quyện chặt lấy nhau. Vua Hùng nếm thử thấy vị cay nồng thơm ngát bèn truyền bá khắp nơi. Sự tích khởi đầu cho tập tục ăn trầu giao kết hôn nhân đậm đà bản sắc.
Truyền thuyếtMai An Tiêm bị lưu đày
Năm Thời Hùng Vương
Mai An Tiêm vì giữ lòng tự trọng trước nhà vua nên bị đày ra hòn đảo hoang vu cằn cỗi ở biển Nga Sơn. Nhờ hạt giống chim trời đánh rơi, chàng kiên trì gieo trồng được giống dưa hấu quý thơm ngọt. Nhờ dưa lạ, gia đình chàng đổi được lương thực, biến đảo hoang thành vùng trù phú và được triệu hồi về triều.
Truyền thuyếtChử Đồng Tử Tiên Dung
Năm Thời Hùng Vương
Chử Đồng Tử mồ côi nghèo đói gặp gỡ công chúa Tiên Dung tại bãi Tự Nhiên, tạo nên mối lương duyên vượt qua ranh giới đẳng cấp. Hai vợ chồng học đạo Phật, mở mang buôn bán và dựng nên phố chợ sầm uất ven sông. Sau một đêm thành trì cùng hai người bay về trời, để lại đầm Nhất Dạ Trạch mênh mông.
Truyền thuyếtLang Liêu dâng bánh chưng
Năm Thời Hùng Vương
Hùng Vương thứ 6 tổ chức cuộc thi dâng lễ vật đầu năm để kén chọn hiền tài truyền trao vương vị. Hoàng tử Lang Liêu được thần báo mộng, dùng hạt ngọc gạo nếp làm bánh vuông tượng Đất và bánh tròn tượng Trời. Nhà vua khen ngợi triết lý hiếu nghĩa sâu xa nên quyết định nhường ngôi báu.
Truyền thuyếtThánh Gióng dẹp giặc Ân
Năm Thời Hùng Vương
Cậu bé làng Phù Đổng vươn vai thành tráng sĩ khổng lồ khi đất nước lâm nguy trước nạn ngoại xâm giặc Ân. Cưỡi ngựa sắt, mặc giáp sắt, cầm roi sắt và nhổ tre đằng ngà quật ngã quân giặc tan tác. Đất nước thái bình, người anh hùng phi ngựa lên đỉnh núi Sóc rồi bay thẳng về trời.
Truyền thuyếtTrận chiến Sơn Tinh Thủy Tinh
Năm Thời Hùng Vương
Cuộc đọ sức thần kỳ giữa thần núi Ba Vì và chúa tể sông nước để cầu hôn công chúa Ngọc Hoa. Sơn Tinh thắng cuộc cưới nàng về núi khiến Thủy Tinh ôm hận dâng nước sông cuồn cuộn đánh phá. Sơn Tinh dùng phép nâng cao núi bấy nhiêu chặn đứng dòng lũ dữ cứu bách tính.
Âu Lạc
Chính sửThục Phán lập nước Âu Lạc
Năm 257 TCN
Thục Phán lãnh đạo tộc người Âu Việt hợp nhất với người Lạc Việt sau khi đánh bại chi phái Hùng Vương cuối cùng. Ông lên ngôi xưng hiệu An Dương Vương, đổi quốc hiệu thành Âu Lạc và dời trung tâm chính trị về vùng đồng bằng Cổ Loa.
Truyền thuyếtXây đắp thành Cổ Loa
Năm 255 TCN
An Dương Vương chỉ huy công cuộc xây dựng tòa thành lũy quân sự quy mô lớn tại Phong Khê với nhiều vòng thành đất xoáy ốc. Ban đầu đắp thành lở sụp, nhờ thần Kim Quy mách nước trừ yêu quái gà trắng núi Thất Diệu mới hoàn thành. Công trình tạo nên pháo đài quân sự kiên cố kết hợp thủy bộ độc đáo.
Truyền thuyếtCao Lỗ chế tạo nỏ liên châu
Năm 250 TCN
Tướng Cao Lỗ phụng mệnh vua sáng chế nỏ máy bắn ra hàng loạt mũi tên đồng sắc bén một lúc, gọi là "Linh quang kim trảo thần nỏ". Vũ khí này cùng đội quân thiện xạ tạo nên sức mạnh răn đe quân sự vượt trội bảo vệ kinh đô. Ngài trực tiếp huấn luyện hàng vạn quân binh ngày đêm tập trận.
Chính sửNhà Tần phát quân đánh Lĩnh Nam
Năm 214 TCN
Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân ồ ạt tiến công chinh phục các tộc người Bách Việt ở Lĩnh Nam. Người Tây Vu và Lạc Việt bất hợp tác, rút sâu vào rừng núi tổ chức đánh tỉa ban đêm. Quân Tần gặp khó khăn nghiêm trọng về địa hình và thiếu hụt lương thực tiếp tế.
Chính sửQuân dân Âu Lạc giết Đồ Thư
Năm 208 TCN
Nghĩa quân Việt dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh bản địa mở cuộc tập kích ban đêm tiêu diệt chủ tướng Đồ Thư. Đạo quân xâm lược nhà Tần hoang mang tột độ, bị đánh bại thảm hại và buộc phải đình chỉ chiến dịch bành trướng. Thắng lợi khẳng định sức mạnh quân sự vượt trội của khối đoàn kết Âu - Lạc.
Bắc thuộc
Chính sửTriệu Đà lập nước Nam Việt
Năm 207 TCN
Nhân lúc nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà giữ chức Úy quận Nam Hải đã cất quân thôn tính các quận Quế Lâm, Tượng Quận. Ông tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, thiết lập kinh đô tại Phiên Ngung. Nước Nam Việt hình thành thế lực quân sự cát cứ độc lập ở phía nam dãy Ngũ Lĩnh.
Chính sửTriệu Đà thôn tính Âu Lạc
Năm 179 TCN
Triệu Đà dùng mưu thông gia gả con trai Trọng Thủy cho Mỵ Châu nhằm đánh cắp bí mật quân sự nỏ thần. Khi bí mật bị bại lộ, quân Triệu bất ngờ tấn công đánh chiếm Cổ Loa khiến An Dương Vương thất thủ chạy về phương Nam. Đất nước Âu Lạc sáp nhập vào lãnh thổ cai trị của nhà Triệu.
Chính sửTriệu Văn Vương kế vị Nam Việt
Năm 137 TCN
Triệu Vũ Vương (Triệu Đà) qua đời sau nhiều thập kỷ cai trị, thọ hơn trăm tuổi. Cháu đích tôn là Triệu Hồ lên nối ngôi xưng Triệu Văn Vương, tiếp tục chính sách ngoại giao hòa hoãn mềm mỏng với nhà Hán để duy trì vị thế độc lập ở Lĩnh Nam.
Chính sửThái hậu Cù thị cầu hòa nhà Hán
Năm 113 TCN
Triệu Anh Tề mất, ấu chúa Triệu Hưng lên thay, Cù Thái hậu (người Hán) nắm quyền phụ chính. Bà tư thông với sứ giả nhà Hán là An Quốc Thiếu Quý và chủ trương dâng nộp bản đồ sáp nhập Nam Việt thành quận huyện phương Bắc, vấp phải sự phản kháng dữ dội của triều đình bản địa.
Chính sửLữ Gia giết Triệu Ai Vương
Năm 112 TCN
Thừa tướng Lữ Gia kiên quyết bảo vệ quyền tự trị của người Việt bản địa đã phát động binh biến giết chết Cù Thái hậu, Triệu Hưng cùng đoàn sứ giả nhà Hán. Ông lập Triệu Kiến Đức lên ngôi vua và hiệu triệu binh mã toàn quốc chuẩn bị kháng chiến chống Hán.
Chính sửNhà Hán thôn tính đất Giao Chỉ
Năm 111 TCN
Hán Vũ Đế cử các danh tướng Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem đại quân tràn xuống phương Nam đánh chiếm Phiên Ngung. Nước Nam Việt bị tiêu diệt hoàn toàn; đất đai Âu Lạc cũ bị phân chia thành ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam trực thuộc Hán.
Chính sửTích Quang làm Thái thú Giao Chỉ
Năm 2 SCN
Nhà Hán cử Tích Quang sang nhậm chức Thái thú quận Giao Chỉ, đẩy mạnh chính sách giáo hóa cư dân theo khuôn phép lễ nghĩa Nho giáo. Ông tiến hành cải cách hôn nhân, bắt người dân bản địa thực thi nghi thức giá thú và thay đổi tập quán sinh hoạt cổ truyền.
Chính sửNhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân
Năm 25
Nhâm Diên được điều sang Cửu Chân, thúc đẩy người dân sử dụng công cụ cày bừa bằng sắt và mở rộng đắp đê khai khẩn đất hoang. Ông ban hành các quy định bắt buộc cưới xin theo tập tục phương Bắc và mở trường dạy chữ Hán.
Chính sửTô Định sang cai trị Giao Chỉ
Năm 34
Tô Định nhậm chức Thái thú Giao Chỉ, thực thi chính sách vơ vét cống phẩm nặng nề và siết chặt chế độ cai trị hà khắc. Sự tham tàn bạo ngược của y đã tước đoạt đặc quyền của tầng lớp quý tộc Lạc tướng bản địa, đẩy mâu thuẫn xã hội lên đến đỉnh điểm.
Chính sửKhởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ
Năm 40 · Tháng 2 âm lịch
Thái thú Tô Định hãm hại Lạc tướng Thi Sách nhằm trấn áp tinh thần phản kháng của người Việt. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị dựng cờ khởi nghĩa tại cửa sông Hát, kêu gọi nhân dân toàn cõi nổi dậy đánh đuổi quân đô hộ. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thu phục 65 thành trì trên khắp vùng Lĩnh Nam.
Chính sửTrưng Trắc xưng vương đóng đô Mê Linh
Năm 40
Sau khi quét sạch các quan lại đô hộ, Trưng Trắc được tướng sĩ và nhân dân suy tôn làm vua, định đô tại Mê Linh. Bà ban lệnh miễn giảm thuế khóa hai năm liền cho toàn thể bách tính để phục hồi sinh kế. Nền tự chủ độc lập đầu tiên của dân tộc được xác lập mạnh mẽ.
Chính sửNhà Hán sai Mã Viện xâm lược
Năm 41 · Ngày 30/2 âm lịch
Hán Quang Vũ Đế hạ chiếu điều động binh mã các quận Trường Sa, Nam Hải, bổ nhiệm Mã Viện làm Phục Ba tướng quân đem đại binh sang đàn áp. Phó tướng Lưu Long chỉ huy cánh quân bộ, phối hợp chặt chẽ cùng thủy quân men theo đường bờ biển tiến đánh Giao Chỉ.
Chính sửTrận kịch chiến tại Lãng Bạc
Năm 42 · Tháng 1 âm lịch
Mã Viện xua đại quân tiến sâu vào đất Giao Chỉ, đụng độ lực lượng nghĩa quân Trưng Vương tại địa bàn đầm lầy hiểm trở Lãng Bạc. Quân Hán chịu thiệt hại nặng nề vì khí hậu rừng thiêng ẩm độc và dịch bệnh bùng phát. Nghĩa quân sau đó chủ động rút lui về Cấm Khê để củng cố thế trận trường kỳ.
Chính sửNghĩa quân lui giữ Cấm Khê
Năm 42
Nhận thấy quân Hán thiện chiến và trang bị áp đảo, Trưng Nữ Vương chủ trương rút quân về thung lũng Cấm Khê hiểm yếu lập chiến lũy. Quân Hán bám đuổi quyết liệt hòng phong tỏa tiếp tế lương thảo của nghĩa quân. Cuộc chiến cầm cự bước vào giai đoạn cam go khốc liệt nhất.
Chính sửHai Bà Trưng tuẫn tiết ở Cấm Khê
Năm 43
Quân Hán khép chặt vòng vây Cấm Khê trong khi lực lượng nghĩa quân kiệt quệ sau nhiều tháng cô lập chống đỡ. Không chịu sa vào tay giặc, Hai Bà Trưng gieo mình xuống dòng Hát Giang tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết. Tinh thần bất khuất của Hai Bà trở thành ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ giải phóng dân tộc.
Truyền thuyếtMã Viện chôn cột đồng trụ
Năm 43
Sau khi tàn sát các thủ lĩnh và tịch thu hàng loạt trống đồng Lạc Việt đúc ngựa mẫu, Mã Viện chôn một cột đồng lớn ở biên ải. Trên cột khắc dòng chữ thề đe dọa "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" hòng trấn áp ý chí quật khởi của người Việt. Người dân qua lại đều ném đá vào chân cột khiến đá lấp thành gò cao.
Chính sửMã Viện bình định Cư Phong
Năm 43
Mã Viện xua quân truy quét lực lượng còn sót lại của nghĩa quân Trưng Vương tại huyện Cư Phong (quận Cửu Chân). Tàn quân chiến đấu đến cùng trước khi bị bức hại hoặc phân tán vào rừng sâu. Nhà Hán bãi bỏ hoàn toàn chế độ Lạc tướng thế tập, cử quan lại trực tiếp cai trị tới cấp huyện.
Chính sửDân Tượng Lâm phá huyện sở
Năm 100
Hơn 2.000 dân bản địa huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam đồng loạt nổi dậy vũ trang đánh phá huyện sở của nhà Hán. Nghĩa quân giết chết huyện lệnh cùng toán binh lính đồn trú, thiêu rụi các kho tàng thuế khóa. Triều đình Đông Hán phải huy động quân binh các huyện phụ cận đàn áp ác liệt.
Chính sửDân Cửu Chân chống sưu dịch
Năm 136
Cư dân các giáp thuộc quận Cửu Chân nổi dậy chống lại lệnh trưng thu phu dịch nặng nề để xây đắp đồn lũy cho quan đô hộ. Nghĩa quân chiếm cứ các vùng hiểm trở, bẻ gãy các đợt càn quét của quân huyện sở. Sự biến làm tê liệt bộ máy bóc lột của nhà Hán tại khu vực suốt nhiều tháng.
Chính sửKhởi nghĩa Khu Liên Tượng Lâm
Năm 137
Dân chúng huyện Tượng Lâm tôn một người bản địa tên là Khu Liên lên làm thủ lĩnh, dấy binh đánh đuổi quan lại nhà Hán. Nghĩa quân làm chủ toàn bộ địa bàn huyện lỵ và tuyên bố không chịu sự kiềm tỏa của chính quyền đô hộ. Đây là mầm mống khởi đầu dẫn tới việc hình thành vương quốc Lâm Ấp độc lập.
Chính sửKhởi nghĩa liên quận Cửu Chân - Nhật Nam
Năm 144
Hàng vạn dân binh tại hai quận Cửu Chân và Nhật Nam bí mật liên minh cất quân nổi dậy tấn công phá hủy hàng loạt đồn lũy Hán kiên cố. Thứ sử Giao Châu Hạ Phương không thể trấn áp bằng quân sự nên phải dùng chính sách phủ dụ, mua chuộc các tù trưởng để giải tán nghĩa quân.
Chính sửChu Đạt khởi nghĩa ở Cư Phong
Năm 157
Hào trưởng Chu Đạt lãnh đạo nhân dân huyện Cư Phong (Cửu Chân) đứng lên đánh phá huyện sở, giết chết huyện lệnh cai trị hà khắc. Hàng nghìn người từ các làng giáp xung quanh đã gia nhập hàng ngũ nghĩa quân, xây dựng căn cứ đánh du kích bền bỉ.
Chính sửChu Đạt chém Nghê Thức
Năm 160
Chu Đạt tập hợp lực lượng đánh chiếm quận trị Cửu Chân, giao chiến ác liệt và chém chết Thái thú Nghê Thức tại trận. Triều đình Hán hoảng sợ cử viên tướng Đổng Doanh đem đại quân sang bao vây trấn áp. Chu Đạt chiến đấu kiên cường và tử trận nơi chiến trường.
Chính sửLương Long khởi nghĩa toàn Giao Châu
Năm 178
Lương Long hiệu triệu dân chúng các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đồng loạt vùng lên quét sạch quan lại tham tàn. Nghĩa quân nhanh chóng làm chủ toàn bộ địa bàn các quận huyện trong nhiều năm, đẩy chính quyền đô hộ vào thế phòng ngự bị động.
Chính sửChu Tuấn đàn áp Lương Long
Năm 181
Hán Linh Đế phái viên tướng nhiều mưu mẹo Chu Tuấn sang làm Thứ sử Giao Châu, huy động đại quân cùng các thủ đoạn chia rẽ thủ lĩnh nghĩa quân. Chu Tuấn cô lập lực lượng Lương Long, tổ chức các trận phục kích ác liệt và dập tắt cuộc khởi nghĩa sau nhiều tháng giao tranh đẫm máu.
Chính sửSĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Chỉ
Năm 187
Trong bối cảnh triều Đông Hán suy tàn nội loạn, Sĩ Nhiếp được cử làm Thái thú Giao Chỉ và sau đó đưa anh em nắm giữ toàn bộ các quận lân cận. Ông duy trì cục diện tương đối hòa bình ổn định suốt hơn 40 năm, trọng dụng nhân sĩ tị nạn phương Bắc và truyền bá Nho học, được xưng tụng là Sĩ Vương.
Chính sửKhu Liên lập nước Lâm Ấp
Năm 192
Khu Liên lãnh đạo dân chúng huyện Tượng Lâm nổi dậy giết chết huyện lệnh và Thứ sử Giao Châu, xóa bỏ hoàn toàn quyền kiểm soát của nhà Hán. Ông tự lập làm vua, chính thức khai sinh quốc gia Lâm Ấp độc lập tại vùng lãnh thổ Trung Bộ ngày nay.
Chính sửSĩ Nhiếp qua đời
Năm 226
Sĩ Nhiếp qua đời ở tuổi 90 sau thời gian dài thiết lập một vùng cát cứ tương đối yên bình tại Giao Châu. Sự ra đi của ông để lại khoảng trống quyền lực to lớn, dẫn đến cuộc tranh chấp gay gắt giữa dòng họ Sĩ với chính quyền Đông Ngô của Tôn Quyền.
Chính sửLữ Đại lừa sát hại Sĩ Huy
Năm 226
Con trai Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy cất binh tự giữ chức Thái thú, chống lại quan lại do Tôn Quyền phái sang. Thứ sử Lữ Đại giả vờ giảng hòa dụ Sĩ Huy cùng anh em ra đầu hàng rồi bất ngờ hạ lệnh chém đầu toàn bộ gia tộc, thâu tóm toàn cõi Giao Châu vào tay Đông Ngô.
Chính sửKhởi nghĩa Bà Triệu ở Cửu Chân
Năm 248
Nữ anh hùng Triệu Thị Trinh cùng anh trai Triệu Quốc Đạt dấy binh từ căn cứ núi Nưa chống lại sự cai trị hà khắc của nhà Đông Ngô. Khởi nghĩa lan rộng như vũ bão, phá hủy nhiều thành quách huyện sở khiến quan lại đô hộ kinh hồn bạt vía. Bà nổi tiếng với khí phách kiên cường cưỡi voi xung trận chém tướng đoạt cờ.
Chính sửBà Triệu tuẫn tiết ở núi Tùng
Năm 248
Nhà Ngô hoảng sợ cử viên tướng lão luyện Lục Dận đem 8.000 quân thiện chiến sang đàn áp cùng nhiều thủ đoạn hiểm độc mua chuộc thổ hào. Nghĩa quân chiến đấu quả cảm đến kiệt cùng lực lượng. Bà Triệu tuẫn tiết trên đỉnh núi Tùng (Thanh Hóa) để giữ tròn trinh tiết và lòng trung liệt với giang sơn.
Chính sửĐào Hoàng thu phục Giao Châu
Năm 271
Trong cuộc hỗn chiến thời Tam Quốc - Tấn, tướng nhà Tấn là Đào Hoàng xuất sắc đánh bại các cánh quân của Đông Ngô, tái chiếm toàn bộ vùng đất Giao Châu. Ông được triều Tấn phong làm Giao Châu thứ sử, mở ra giai đoạn cai trị ổn định kéo dài suốt gần ba thập kỷ.
Chính sửThứ sử Đào Hoàng qua đời
Năm 299
Thứ sử Đào Hoàng qua đời tại nhiệm sở Giao Châu sau gần ba mươi năm nắm quyền cai trị. Dân chúng bản địa vô cùng thương tiếc, lập đền thờ phụng tưởng nhớ công đức giữ yên cương thổ. Sự ra đi của ông mở đầu thời kỳ tranh chấp quân sự và cướp phá liên miên của Lâm Ấp.
Chính sửĐằng Độn Chi bóc lột dân chúng
Năm 380
Thứ sử Đằng Độn Chi của nhà Đông Tấn áp đặt chế độ sưu thuế ngặt nghèo, vơ vét ngọc trai, đồi mồi và gỗ quý dâng tiến triều đình phương Bắc để mưu cầu ân sủng. Đời sống cư dân bản địa rơi vào cảnh lầm than cùng cực, tạo điều kiện cho quân Lâm Ấp liên tục đổ bộ cướp phá duyên hải.
Chính sửĐỗ Huệ Độ đánh tan Lư Tuần
Năm 411
Tàn quân khởi nghĩa nông dân Trung Quốc do Lư Tuần chỉ huy vượt biển tràn vào cướp phá các quận ven biển Giao Chỉ. Thứ sử bản xứ Đỗ Huệ Độ tổ chức quân dân kiên cường đánh trả, dùng thuyền hỏa công phóng hỏa thiêu rụi thủy đội của giặc trên sông Thạch Đầu, giết chết Lư Tuần.
Chính sửĐàn Hòa Chi tấn công Lâm Ấp
Năm 446
Nhà Lưu Tống cử Đàn Hòa Chi và Tông Khác sang Giao Châu củng cố lực lượng rồi mở đại chiến dịch tiến công kinh thành Lâm Ấp. Quân Lưu Tống dùng hình nộm sư tử dọa lùi đội voi chiến của địch, cướp bóc vô số tượng vàng của cải đem về phương Bắc.
Chính sửLý Trường Nhân làm chủ Giao Châu
Năm 468
Nhân khi thứ sử nhà Lưu Tống chết, thổ hào Giao Châu là Lý Trường Nhân tập hợp lực lượng đánh đuổi quan lại ngoại bang, tự xưng chức Thứ sử cai quản châu sự. Ông tổ chức quân dân đánh tan đạo quân viễn chinh do triều đình Tống phái sang dưới quyền tướng Lưu Bột.
Chính sửLý Thúc Hiến kế vị ở Giao Châu
Năm 477
Lý Trường Nhân qua đời, người em họ là Lý Thúc Hiến lên thay quyền cai quản Giao Châu. Thúc Hiến kiên quyết từ chối nộp thuế khóa và cống phẩm cho triều đình Nam Tề, củng cố đồn lũy phòng thủ giữ vững nền tự trị bản địa suốt nhiều năm liền.
Chính sửNam Tề điều binh dẹp Lý Thúc Hiến
Năm 485
Nam Tề Cao Đế phái đại tướng Lưu Khải đem đại quân thủy bộ sang bao vây trấn áp Giao Châu. Thấy thế giặc quá mạnh không thể đương đầu nổi, Lý Thúc Hiến buộc phải mở cổng thành xin hàng để bảo toàn tính mạng cho dân chúng. Giao Châu lại rơi vào tay quan lại phương Bắc.
Chính sửĐặt tên An Nam đô hộ phủ
Năm 679
Nhà Đường tiến hành cải cách sâu rộng bộ máy hành chính thuộc địa, đổi Giao Châu đô đốc phủ thành An Nam đô hộ phủ. Triều đình phương Bắc chia lãnh thổ thành các châu mục để siết chặt ách cai trị trực tiếp và khai thác cống phẩm lâm thổ sản.
Chính sửKhởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến
Năm 687
Đô hộ Lưu Diên Hựu tăng sưu thuế lên gấp đôi, gây phẫn nộ cùng cực. Thổ hào Lý Tự Tiên cùng Đinh Kiến đứng lên khởi nghĩa bao vây phủ thành Tống Bình, giết chết Lưu Diên Hựu. Nhà Đường phải phái tướng Phùng Nguyên Thường đem đại quân sang đàn áp đẫm máu.
Chính sửMai Thúc Loan xưng Mai Hắc Đế
Năm 713
Bất mãn trước chính sách cống nộp quả vải và sưu dịch nặng nề, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa ở Sa Nam (Nghệ An). Ông liên kết cùng nhân dân 32 châu và lân bang, xây dựng thành Vạn An xưng đế, quét sạch toàn bộ quan lại đô hộ phương Bắc khỏi cõi đất.
Chính sửQuân Đường vây phá thành Vạn An
Năm 722
Thái giám Dương Tư Húc cùng tướng Quang Sở Khách đem 10 vạn đại quân bất ngờ tiến công bao vây căn cứ thành Vạn An. Mai Hắc Đế kiên cường tử chiến tại mặt trận, quân Đường tàn sát dã man hàng vạn nghĩa quân và chất xác đắp thành gò cao để thị uy.
Chính sửThủy quân Chà Và cướp phá
Năm 767
Thủy quân Chà Và (hải tặc vùng quần đảo Mã Lai - Nam Đảo) và Côn Lôn đổ bộ cướp bóc châu thành Giao Châu. Kinh lược sứ Trương Bá Nghi phải dốc toàn lực quân sĩ đánh dẹp mới đẩy lui được giặc biển ra khỏi bờ cõi.
Chính sửPhùng Hưng đánh chiếm Tống Bình
Năm 791 · Tháng 4 âm lịch
Hào trưởng Phùng Hưng cùng em là Phùng Dĩnh dấy binh từ Đường Lâm bao vây phủ thành Tống Bình. Đô hộ Cao Chính Bình hoảng sợ phát bệnh cuồng mà chết. Nghĩa quân làm chủ phủ thành, lập lại quyền tự chủ cho đất nước và được nhân dân tôn xưng Bố Cái Đại Vương.
Chính sửPhùng Hưng mất, Phùng An kế lập
Năm 798
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng qua đời, nội bộ tướng lĩnh xảy ra tranh chấp quyền bính. Con trai ông là Phùng An lên nối ngôi xưng vương, tôn cha là Bố Cái Đại Vương và tiếp tục duy trì bộ máy tự quản tại phủ thành Tống Bình.
Chính sửTriệu Anh bức hàng Phùng An
Năm 802
Nhà Đường cử viên tướng danh tiếng Triệu Anh đem đại quân sang trấn áp An Nam. Triệu Anh khéo léo dùng uy lực quân sự kết hợp chiêu dụ phân hóa khiến Phùng An cùng đường phải đem thuộc hạ ra đầu hàng. Quyền tự chủ ngắn ngủi của nhà họ Phùng kết thúc.
Chính sửDương Thanh giết Lý Tượng Cổ
Năm 819
Đô đốc Dương Thanh người bản địa bất mãn trước sự nghi kỵ tàn nhẫn của quan lại phương Bắc đã lãnh đạo binh lính nổi dậy đánh chiếm phủ thành. Ông chém đầu Đô hộ Lý Tượng Cổ cùng gia quyến, nắm quyền kiểm soát toàn cõi Giao Châu.
Chính sửQuế Trọng Vũ đàn áp Dương Thanh
Năm 820
Nhà Đường bổ nhiệm Quế Trọng Vũ làm Đô hộ sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh. Quế Trọng Vũ dùng kế ly gián, mua chuộc tướng dưới quyền khiến hàng ngũ nghĩa quân tan rã. Dương Thanh bị bắt giết; cuộc khởi nghĩa bị dập tắt trong bể máu.
Chính sửQuân Nam Chiếu hạ thành Giao Châu
Năm 863
Quân đội Nam Chiếu huy động lực lượng tràn xuống tấn công đánh chiếm toàn bộ phủ thành An Nam. Đô hộ Thái Tập tử trận, thành quách bị tàn phá nặng nề, bộ máy cai trị của triều Đường tan vỡ hoàn toàn suốt 3 năm liền.
Chính sửCao Biền đánh Nam Chiếu đắp Đại La
Năm 866
Nhà Đường cử danh tướng Cao Biền sang dẹp tan tàn quân Nam Chiếu, đắp lại thành Đại La quy mô lớn kiên cố, nạo vét sông Tô Lịch mở đường thủy. Đường Ý Tông đổi An Nam thành Tĩnh Hải quân và phong Biền làm Tiết độ sứ.
Chính sửKhúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ
Năm 905
Nhà Đường suy sụp, viên Độc Cô Tổn bị biếm chức đày đi xa. Hào trưởng Chu Diên là Khúc Thừa Dụ được nhân dân suy tôn kéo quân vào phủ thành Đại La xưng Tiết độ sứ, khéo léo đặt nền móng vững chắc cho nền độc lập dân tộc.
Chính sửĐường triều công nhận Khúc Thừa Dụ
Năm 906
Đường Ai Đế trong thế bất lực buộc phải hạ chiếu phong cho Khúc Thừa Dụ chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, gia phong tước "Đồng bình chương sự", chính thức thừa nhận quyền tự trị của người Việt.
Chính sửKhúc Thừa Dụ mất
Năm 907 · Ngày 23/7 âm lịch
Khúc Thừa Dụ mất (ngày 23/7 âm lịch), con là Khúc Hạo lên thay chức Tiết độ sứ. Khúc Hạo thực thi đường lối chính trị "khoan dung giản dị", chia đặt lộ, phủ, châu, giáp, xã và bình quân thuế khóa ruộng đất, củng cố thể chế tự chủ.
Chính sửKhúc Thừa Mỹ kế nhiệm Tiết độ sứ
Năm 917
Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay quyền lãnh đạo đất nước. Khúc Thừa Mỹ chủ trương nhận tiết việt của nhà Hậu Lương nhằm kiềm chế nước Nam Hán láng giềng, song chính sách ngoại giao này đã làm Nam Hán tức giận tìm cớ cất quân xâm lấn.
Chính sửNam Hán xâm lược bắt Khúc Thừa Mỹ
Năm 930
Vua Nam Hán Lưu Nham phái hai tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh cất quân xâm lược nước ta. Khúc Thừa Mỹ chống cự không nổi, bị bắt giải về Phiên Ngung. Nam Hán đặt viên tướng Lý Tiến làm Thứ sử chiếm đóng thành Đại La.
Chính sửDương Đình Nghệ đại phá Nam Hán
Năm 931
Dương Đình Nghệ tập hợp 3.000 nghĩa sĩ con nuôi từ Ái Châu (Thanh Hóa) kéo quân ra Bắc bao vây thành Đại La. Quân Nam Hán cử Trần Bảo sang cứu viện liền bị Đình Nghệ đón đánh chém đầu tại trận, thu phục toàn vẹn bờ cõi giang sơn.
Chính sửKiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ
Năm 937 · Tháng 4 âm lịch
Tỳ tướng Kiều Công Tiễn phản trắc ám hại Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ vào tháng 4 năm Đinh Dậu để tiếm quyền. Thấy Ngô Quyền từ Ái Châu chuẩn bị cất quân trừng phạt, y hoảng sợ sai sứ sang cầu cứu hoàng đế Nam Hán sang can thiệp.
Chính sửNgô Quyền hạ Đại La giết Kiều Công Tiễn
Năm 938 · Tháng 10 âm lịch
Ngô Quyền kéo đại quân từ Ái Châu ra Bắc tiến hành trừng phạt kẻ phản nghịch. Tháng 10 năm Mậu Tuất, Ngô Quyền hạ thành Đại La, chém đầu Kiều Công Tiễn bêu trước ba quân, củng cố toàn bộ lực lượng sẵn sàng đón đánh đạo quân xâm lược phương Bắc.
Vạn Xuân
Chính sửLý Bí khởi nghĩa đuổi Tiêu Tư
Năm 541 · Tháng 12 âm lịch
Tiêu Tư thứ sử nhà Lương cai trị tham tàn bạo ngược. Hào trưởng Thái Bình là Lý Bí liên kết cùng anh hào các châu nổi dậy đánh chiếm thành Long Biên. Tiêu Tư khiếp sợ phải đút lót của cải tháo chạy về Quảng Châu, chính quyền đô hộ tan vỡ hoàn toàn.
Chính sửĐánh tan quân Lương ở Hợp Phố
Năm 542 · Tháng 4 âm lịch
Lương Vũ Đế phái Thứ sử Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đem đại quân tiến công tái chiếm Giao Châu. Lý Bí chủ động đưa lực lượng đón đánh kịch liệt tại Hợp Phố, tiêu diệt mười phần chết bảy tám, đập tan đạo quân xâm lược ngay từ cửa ngõ biên giới.
Chính sửPhạm Tu đại phá quân Lâm Ấp
Năm 543 · Tháng 4 âm lịch
Vua Lâm Ấp thừa cơ Giao Châu biến động đem quân vượt biên giới cướp phá huyện Cửu Đức (Hà Tĩnh). Lão tướng Phạm Tu vâng mệnh Lý Bí thống lĩnh thủy bộ tiến đánh, đại phá quân Lâm Ấp tan tác tại chiến trường, giữ vững bình yên dải biên thùy phía Nam.
Chính sửLý Bí xưng Hoàng đế lập Vạn Xuân
Năm 544 · Tháng 1 âm lịch
Lý Bí chính thức lên ngôi Hoàng đế xưng Nam Việt Đế, đặt niên hiệu Thiên Đức, định đô ở Long Biên. Ông đặt tên nước là Vạn Xuân với ước vọng độc lập trường tồn vạn đời, lập điện Vạn Thọ và chùa Khai Quốc, thiết lập triều đình với hai ban văn võ quy củ.
Chính sửTrần Bá Tiên đem quân xâm lấn
Năm 545 · Tháng 6 âm lịch
Nhà Lương cử danh tướng Trần Bá Tiên cùng Dương Phiêu mang đại quân tinh nhuệ sang xâm lược nước Vạn Xuân. Lý Nam Đế lập chiến lũy chặn giặc kiên cường ở Chu Diên và hồ Điển Triệt nhưng thế cùng lực kiệt nên phải rút lui về động Khuất Lão hiểm trở.
Chính sửThủy chiến đầm hồ Điển Triệt
Năm 546
Lý Nam Đế đóng quân tại hồ Điển Triệt với hàng vạn quân binh và thuyền bè phòng thủ kiên cố. Đêm mưa to gió lớn nước dâng cao, Trần Bá Tiên lợi dụng thời cơ bất ngờ đánh úp khiến quân ta vỡ trận, vua phải lui quân vào rừng sâu Khuất Lão nương náu.
Chính sửLý Nam Đế mất ở Khuất Lão
Năm 548 · Ngày 20/3 âm lịch
Sau thời gian dài chống chọi với bệnh tật giữa rừng thiêng nước độc, Lý Nam Đế băng hà tại động Khuất Lão (Phú Thọ). Trước khi mất, ngài trao lại quyền chỉ huy kháng chiến và cờ lệnh cho tướng quân Triệu Quang Phục để tiếp tục sự nghiệp phục quốc.
Chính sửTriệu Quang Phục xưng Dạ Trạch Vương
Năm 548
Triệu Quang Phục rút toàn bộ nghĩa quân về đầm lầy Dạ Trạch (Hưng Yên), lập căn cứ hiểm yếu bất khả xâm phạm và xưng là Dạ Trạch Vương. Ông dùng thuyền độc mộc đánh du kích tiêu hao quân Lương vào ban đêm và gắn liền với truyền tích móng rùa Kim Quy cài mũ đâu mâu.
Chính sửTriệu Việt Vương phá tan Dương Sàn
Năm 550
Trần Bá Tiên rút về nước dẹp loạn Hầu Cảnh, giao quyền cho tỳ tướng Dương Sàn ở lại chiếm đóng. Triệu Việt Vương tung toàn bộ lực lượng từ Dạ Trạch phản công đánh úp tiêu diệt Dương Sàn, quét sạch quân giặc và giải phóng hoàn toàn kinh thành Long Biên.
Chính sửLý Phật Tử tranh quyền Dạ Trạch
Năm 557
Lý Phật Tử (dòng dõi Lý Nam Đế) đem quân từ phương Nam ra tranh đoạt ngôi vua với Triệu Việt Vương. Hai bên giao chiến bất phân thắng bại tại Thái Bình, sau đó chấp thuận hòa hoãn chia cắt lãnh thổ và giảng hòa bằng hôn nhân chính trị gả con cho nhau.
Chính sửLý Phật Tử đánh úp Triệu Việt Vương
Năm 571
Lý Phật Tử tráo trở xé bỏ minh ước, dùng mưu gian thám thính cách thức bố phòng rồi cất quân đánh úp Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương cùng đường phải phi ngựa chạy về phía nam rồi trẫm mình xuống cửa biển Đại Nha tự vẫn. Lý Phật Tử lên ngôi xưng Hậu Lý Nam Đế.
Chính sửLưu Phương xâm lược Vạn Xuân
Năm 602
Tùy Văn Đế sai danh tướng Lưu Phương thống lĩnh 27 doanh quân thủy bộ ồ ạt tràn sang xâm lược nước Vạn Xuân. Lý Phật Tử thế cùng lực kiệt, lại bị đối phương uy hiếp quân sự nặng nề nên đã quyết định dâng thành xin đầu hàng vô điều kiện.
Nhà Ngô
Chính sửĐại thắng Bạch Đằng kết thúc Bắc thuộc
Năm 938 · Tháng 11 âm lịch
Ngô Quyền cho vót nhọn cọc gỗ bịt sắt đóng ngầm dưới lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, ông nhử thủy quân Lưu Hoằng Tháo vượt bãi cọc; khi triều rút, quân ta tổng lực phản công, tiêu diệt Hoằng Tháo, đập tan quân xâm lược Nam Hán.
Chính sửNgô Quyền xưng vương định đô Cổ Loa
Năm 939 · Mùa xuân
Ngô Quyền xưng vương, bãi bỏ chức Tiết độ sứ và thiết lập triều nghi trăm quan. Đặt đô tại Cổ Loa, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài cho đất nước.
Chính sửTiền Ngô Vương Ngô Quyền qua đời
Năm 944
Ngô Quyền qua đời sau 6 năm trị vì, hưởng thọ 47 tuổi. Trước khi mất, ông ủy thác việc phụ chính con trưởng Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha.
Chính sửNgô Xương Văn phế truất Dương Tam Kha
Năm 950
Ngô Xương Văn đem quân đi dẹp loạn ở Thái Nguyên nhưng quay lại lật đổ Dương Tam Kha cướp ngôi. Xương Văn không nỡ giết mà giáng Tam Kha làm Chương Dương công rồi xưng Nam Tấn Vương.
Chính sửNam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận
Năm 965
Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn đem quân đi đánh dẹp hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình thì bị trúng nỏ ngầm tử trận. Nhà Ngô suy tàn sụp đổ, cục diện loạn 12 sứ quân bùng nổ dữ dội trên cả nước.
Nhà Đinh
Chính sửĐinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế
Năm 968
Đinh Bộ Lĩnh hoàn thành công cuộc dẹp yên 12 sứ quân, thống nhất non sông về một mối. Ông lên ngôi Hoàng đế xưng Đại Thắng Minh Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt và đóng đô ở Hoa Lư.
Chính sửĐinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu Thái Bình
Năm 970
Đinh Tiên Hoàng ban hành niên hiệu Thái Bình, mở đầu truyền thống đặt niên hiệu riêng của các triều đại quân chủ độc lập. Đồng thời triều đình cho đúc đồng tiền kim loại đầu tiên mang tên Thái Bình Hưng Bảo.
Chính sửĐinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị ám hại
Năm 979 · Tháng 10 âm lịch
Chi hậu nội nhân Đỗ Thích đang đêm nhân lúc Đinh Tiên Hoàng say rượu ngủ ở sân đình bèn sát hại vua cùng Nam Việt Vương Đinh Liễn. Quan quân phát hiện bắt chém Đỗ Thích, phò tá ấu chúa Đinh Toàn nối ngôi.
Tiền Lê
Chính sửLê Hoàn lên ngôi Hoàng đế
Năm 980 · Tháng 7 âm lịch
Đứng trước hiểm họa nhà Tống lăm le xâm lược, Thái hậu Dương thị cùng quan quân tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên làm vua. Nhà Tiền Lê thành lập, tập trung toàn lực chuẩn bị kháng chiến cứu nước.
Chính sửTrận Bạch Đằng phá tan quân Tống
Năm 981 · Ngày 28/4 âm lịch
Thủy quân Tiền Lê đụng độ quyết liệt với đạo quân Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy trên sông Bạch Đằng. Lê Hoàn lập mưu giả hàng dụ giặc vào thế trận mai phục rồi đánh úp, chém chết Hầu Nhân Bảo tại trận.
Chính sửVua Lê Hoàn cày ruộng Tịch điền
Năm 987 · Mùa xuân
Mùa xuân năm Đinh Hợi, Lê Đại Hành thân hành ngự giá về chân núi Đọi (Hà Nam) tổ chức lễ cày ruộng Tịch điền đầu năm. Sự kiện mở đầu cho tập tục khuyến khích sản xuất nông nghiệp của các vương triều Đại Việt.
Chính sửLê Đại Hành băng hà
Năm 1005 · Tháng 3 âm lịch
Hoàng đế Lê Hoàn băng hà tại điện Trường Xuân sau 25 năm trị vì hiển hách, thọ 64 tuổi. Sau khi vua mất, các hoàng tử lập tức mang quân tranh giành ngai vàng khiến cung đình hỗn loạn suốt 8 tháng.
Chính sửLê Long Đĩnh sát hại anh cướp ngôi
Năm 1005 · Tháng 11 âm lịch
Lê Long Việt mới bước lên ngôi vua được 3 ngày thì bị người em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh đang đêm sai người trèo tường vào giết chết. Long Đĩnh tự lập làm vua, về sau sử gọi là Ngọa Triều Hoàng Đế.
Chính sửLê Ngọa Triều qua đời tại tẩm điện
Năm 1009 · Tháng 10 âm lịch
Vua Lê Long Đĩnh qua đời ở tẩm điện khi mới 24 tuổi, nội tộc nhà Tiền Lê suy sụp và mất hết uy tín. Quan triều thần cùng giới tăng lữ chuẩn bị suy tôn Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên kế vị.
Nhà Lý
Chính sửLý Công Uẩn lên ngôi lập vương triều Lý
Năm 1009 · Ngày 2/11 âm lịch
Triều thần đồng lòng tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tại điện Càn Nguyên, đặt niên hiệu Thuận Thiên và đại xá thiên hạ. Sự kiện chính thức mở ra triều đại nhà Lý hưng thịnh kéo dài hơn 200 năm.
Chính sửLý Thái Tổ ban Chiếu dời đô
Năm 1010 · Tháng 7 âm lịch
Nhận thấy Hoa Lư chật hẹp, vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô chuyển trung tâm chính trị về thành Đại La ven sông Hồng. Khi thuyền ngự tới chân thành thấy rồng vàng bay lượn, vua bèn đổi tên kinh đô thành Thăng Long.
Chính sửLý Thái Tổ băng hà
Năm 1028 · Ngày 3/3 âm lịch
Hoàng đế Lý Thái Tổ băng hà tại điện Long An, thọ 55 tuổi sau 19 năm trị vì non sông đất nước. Ngài để lại nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị và quy hoạch định đô Thăng Long muôn đời.
Chính sửLoạn Tam vương tại cấm thành Thăng Long
Năm 1028 · Ngày 4/3 âm lịch
Ngay sau khi Lý Thái Tổ mất, ba vị hoàng tử Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức đem quân bao vây cấm thành toan đoạt ngôi vua. Dũng tướng Lê Phụng Hiểu tuốt gươm chém chết Vũ Đức Vương, phò trợ Thái tử Phật Mã lên ngôi an toàn.
Chính sửBan hành bộ luật Hình thư
Năm 1042 · Tháng 10 âm lịch
Vua Lý Thái Tông xuống chiếu san định luật lệ, phân loại rõ ràng thành các điều mục và ban hành bộ Hình thư. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên được ghi nhận chính thức trong lịch sử lập pháp Việt Nam.
Chính sửTrận Ngũ Hải phạt Chiêm Thành
Năm 1044 · Tháng 7 âm lịch
Vua Lý Thái Tông thân chinh cất quân nam tiến đánh dẹp Chiêm Thành quấy nhiễu, đại phá quân địch tại sông Ngũ Hải (sông Nhật Lệ). Tướng Chiêm là Sạ Đẩu tử trận, quan quân Lý thu được nhiều chiến lợi phẩm khải hoàn.
Chính sửKhởi dựng chùa Diên Hựu
Năm 1049 · Tháng 10 âm lịch
Vua Lý Thái Tông chiêm bao thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài sen dắt vua lên tòa, bèn cho dựng chùa Diên Hựu (chùa Một Cột). Ngôi chùa được xây giữa hồ nước với hình dáng một đóa hoa sen ngát hương.
Chính sửĐổi quốc hiệu thành Đại Việt
Năm 1054 · Tháng 10 âm lịch
Sau khi nối ngôi tiên đế Lý Thái Tông, Hoàng đế Lý Thánh Tông quyết định đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt sang Đại Việt. Tên gọi Đại Việt trở thành biểu tượng kiêu hãnh của nền độc lập dân tộc suốt nhiều thế kỷ.
Chính sửXây dựng Văn Miếu tại Thăng Long
Năm 1070 · Tháng 8 âm lịch
Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu tại kinh thành Thăng Long, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và 72 hiền triết để xuân thu cúng tế. Đồng thời cho Hoàng thái tử Lý Càn Đức đến đây học tập, đặt nền móng giáo dục Nho học cấp quốc gia.
Chính sửMở khoa thi Nho học đầu tiên
Năm 1075 · Tháng 2 âm lịch
Nhà Lý mở khoa thi "Minh kinh bác học" và thi Nho học tam trường nhằm tuyển chọn bậc trí thức tài năng giúp nước. Lê Văn Thịnh xuất sắc đỗ đầu kỳ thi, trở thành vị Trạng nguyên khai khoa đầu tiên của lịch sử thi cử Việt Nam.
Chính sửChủ động tập kích phá căn cứ Tống
Năm 1075 · Tháng 11 âm lịch
Phát hiện âm mưu tập kết binh lương đánh úp Đại Việt của nhà Tống, Lý Thường Kiệt và Tông Đản chủ động đem 10 vạn quân đánh sang Khâm, Liêm, Ung. Quân Đại Việt triệt phá hoàn toàn các căn cứ hậu cần bàn đạp xâm lược của giặc.
Chính sửThành lập Quốc Tử Giám
Năm 1076
Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu xây dựng Quốc Tử Giám kề bên Văn Miếu, chọn lựa con em quý tộc và các văn thần xuất sắc vào rèn luyện kinh sách. Đây được coi là trường đại học công lập đầu tiên của Việt Nam.
Chính sửTrận tuyến Như Nguyệt đánh bại quân Tống
Năm 1077 · Mùa xuân
Quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Thái úy Lý Thường Kiệt lập chiến lũy chặn đứng 30 vạn liên quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy bên bờ sông Cầu. Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" vang lên khích lệ quân sĩ khiến địch tan vỡ ý chí xâm lược.
Chính sửThái úy Lý Thường Kiệt qua đời
Năm 1105 · Tháng 6 âm lịch
Phụ quốc Thái phó Á vương Lý Thường Kiệt tạ thế, thọ 87 tuổi. Ông là vị danh tướng kiệt xuất có công lao to lớn đánh Chiêm, phá Tống, bảo vệ vững chắc chủ quyền bờ cõi và nền độc lập của Đại Việt.
Chính sửLý Nhân Tông băng hà
Năm 1127 · Ngày 12/12 âm lịch
Vua Lý Nhân Tông băng hà tại điện Vĩnh Quang sau 56 năm trị vì đất nước, hưởng thọ 62 tuổi. Dưới thời ông, Đại Việt phát triển rực rỡ toàn diện từ nông nghiệp, thi cử Nho học cho đến sức mạnh quốc phòng.
Chính sửThái sư Tô Hiến Thành phụ chính
Năm 1175 · Tháng 7 âm lịch
Vua Lý Anh Tông bệnh nặng, ban di chiếu giao Thái sư Tô Hiến Thành phụ chính giúp Thái tử Lý Long Cán kế vị. Ông kiên cường giữ trọn đạo trung nghĩa, gạt bỏ mọi lời mua chuộc bằng vàng bạc của Chiêu Linh hoàng hậu.
Chính sửLý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh
Năm 1225 · Ngày 11/12 âm lịch
Dưới sự sắp xếp của Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, Nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng ban chiếu nhường ngôi báu cho chồng là Trần Cảnh tại điện Thiên An. Triều Lý chính thức khép lại sau 216 năm, quyền lực chuyển giao hòa bình sang họ Trần.
Nhà Trần
Chính sửTrần Thái Tông đặt niên hiệu Kiến Trung
Năm 1226 · Tháng 1 âm lịch
Vua Trần Thái Tông chính thức bước lên ngai vàng, xuống chiếu đại xá thiên hạ và đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất. Trần Thủ Độ được phong làm Thống quốc Thái sư nắm quyền điều hành triều chính.
Chính sửLập Quốc học viện và Giảng võ đường
Năm 1253 · Tháng 10 âm lịch
Vua Trần Thái Tông hạ chiếu cho lập Quốc học viện để các nho sĩ cả nước tụ hội học tập, đắp tượng Khổng Tử và Nhan Tử. Triều đình đồng thời mở Giảng võ đường để tập dượt binh pháp và võ nghệ cho tướng lĩnh.
Chính sửTrận Bình Lệ Nguyên chặn giặc Mông Cổ
Năm 1258 · Ngày 12/12 âm lịch
Tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân xâm lược, vua Trần Thái Tông thân chinh chỉ huy phòng tuyến Bình Lệ Nguyên. Thấy thế giặc quá mạnh, Lê Phụ Trần khuyên vua tạm lui quân để bảo toàn lực lượng phản công sau.
Chính sửĐại phá quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu
Năm 1258 · Ngày 24/12 âm lịch
Thượng hoàng và vua Trần cùng các tướng bất ngờ đem quân phản công đánh úp đồn giặc Mông Cổ đóng tại bến Đông Bộ Đầu. Quân giặc thua to tháo chạy tán loạn về phía mạn ngược, kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất toàn thắng.
Chính sửHoàn thành bộ sách Đại Việt sử ký
Năm 1272 · Tháng 1 âm lịch
Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu hoàn thành biên soạn bộ quốc sử đầu tiên "Đại Việt sử ký" gồm 30 quyển dâng lên vua Trần Thánh Tông. Tác phẩm ghi chép lịch sử dân tộc từ thời Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng.
Chính sửTổ chức Hội nghị quân sự Bình Than
Năm 1282 · Tháng 10 âm lịch
Vua Trần Nhân Tông họp vương hầutrăm quan tại bến Bình Than (Hải Dương) bàn thảo kế hoạch kháng chiến chống Nguyên Mông lần hai. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản vì còn nhỏ tuổi không được vào dự bàn nên tức giận bóp nát quả cam trong tay.
Chính sửTrần Quốc Tuấn soạn Hịch tướng sĩ
Năm 1284 · Tháng 12 âm lịch
Trước sức ép của 50 vạn liên quân Nguyên Mông do Thoát Hoan chỉ huy, Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương duyệt võ và công bố "Hịch tướng sĩ". Lời hịch lay động lòng người, toàn thể binh sĩ đồng lòng thích hai chữ "Sát Thát" lên cánh tay quyết tử cứu nước.
Chính sửTriệu tập Hội nghị Diên Hồng
Năm 1285 · Tháng 12 âm lịch
Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mời các bô lão có uy tín từ khắp mọi miền đất nước về điện Diên Hồng để hỏi kế đánh hay hòa. Toàn thể bô lão vung tay đồng thanh hô vang "Đánh!", kết tinh ý chí chiến đấu sắt đá của toàn dân tộc.
Chính sửTrần Bình Trọng hiên ngang tuẫn tiết
Năm 1285 · Tháng 2 âm lịch
Tướng Trần Bình Trọng chỉ huy chặn hậu bị giặc Nguyên bắt sống ở bãi Đà Mạc; tướng giặc dụ dỗ phong tước vương nhưng ông khảng khái quát lớn: "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc". Giặc bất lực đành đem ông ra xử tử.
Chính sửChiến thắng Hàm Tử - Chương Dương
Năm 1285 · Tháng 5 âm lịch
Dưới sự chỉ huy tài ba của Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải, quân Đại Việt liên tiếp đánh tan các đạo quân Nguyên tại cửa Hàm Tử và bến Chương Dương. Quan quân thừa thắng giải phóng hoàn toàn kinh đô Thăng Long.
Chính sửTrận Tây Kết chém tướng giặc Toa Đô
Năm 1285 · Ngày 24/5 âm lịch
Hưng Đạo Vương cùng Thượng hoàng và Hoàng đế tiến đánh quân Thoát Hoan và Toa Đô ở bến Tây Kết. Tướng Toa Đô bị chém đầu tại trận, Thoát Hoan chui vào ống đồng tháo chạy về Tàu, kháng chiến lần hai đại thắng.
Chính sửTrận Vân Đồn cướp đoàn thuyền lương giặc
Năm 1288 · Tháng 1 âm lịch
Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư bày trận phục kích tại Vân Đồn, đánh tan đoàn thuyền vận tải chở 17 vạn thạch lương của Trương Văn Hổ. Sự kiện làm phá sản hoàn toàn kế hoạch hậu cần nuôi quân của đại quân Thoát Hoan.
Chính sửĐại thắng Bạch Đằng bắt sống Ô Mã Nhi
Năm 1288 · Ngày 8/3 âm lịch
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn lợi dụng thủy triều bố trí bãi cọc ngầm trên sông Bạch Đằng, đánh tan hạm đội quân Nguyên rút lui. Bắt sống toàn bộ các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến lần ba.
Chính sửHưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất
Năm 1300 · Ngày 20/8 âm lịch
Tiết chế Thái sư Vạn Kiếp tông tử Bình Bắc Đại Nguyên soái Hưng Đạo Đại Vương tạ thế tại phủ Vạn Kiếp. Trước khi lâm chung, ông căn dặn vua Trần Anh Tông kế sách trị nước muôn đời là "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".
Chính sửHuyền Trân công chúa kết hôn với vua Chiêm
Năm 1306 · Tháng 6 âm lịch
Vua Trần Anh Tông theo lời hẹn của Thượng hoàng Trần Nhân Tông gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành Chế Mân. Chế Mân dâng hai châu Ô và Lý (từ Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế) làm sính lễ nhập vào bản đồ Đại Việt.
Chính sửPhật hoàng Trần Nhân Tông viên tịch
Năm 1308 · Ngày 1/11 âm lịch
Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọa Vân trên ngọn núi Yên Tử, hưởng thọ 51 tuổi. Ngài là vị hoàng đế anh hùng thời kháng Nguyên và là Đệ nhất tổ sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thuần Việt.
Chính sửVạn thế sư biểu Chu Văn An qua đời
Năm 1370 · Tháng 11 âm lịch
Danh nho Chu Văn An tạ thế tại tư gia núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), thọ 78 tuổi. Ông là bậc thầy mẫu mực của muôn đời, từng dâng "Thất trảm sớ" xin chém 7 gian thần lộng hành rồi treo mũ từ quan về ở ẩn dạy học.
Chính sửTrần Duệ Tông tử trận tại thành Đồ Bàn
Năm 1377 · Ngày 23/1 âm lịch
Vua Trần Duệ Tông bất chấp can ngăn cất 12 vạn quân vào nam đánh kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành. Quân Chiêm do Chế Bồng Nga chỉ huy vây hãm phục kích, vua Duệ Tông cùng nhiều danh tướng tử trận tại chiến trường.
Chính sửTrận Hải Triều bắn chết vua Chiêm Chế Bồng Nga
Năm 1390 · Ngày 23/1 âm lịch
Đô tướng Trần Khát Chân chỉ huy quân Trần chạm trán hạm đội Chiêm Thành ở khúc sông Hải Triều. Nhờ hàng tướng giặc chỉ điểm chiếc thuyền ngự sơn đỏ, quân ta tập trung hỏa pháo bắn trúng giết chết Chế Bồng Nga, đánh tan đạo quân Chiêm.
Chính sửBan hành tiền giấy Thông bảo hội sao
Năm 1396 · Tháng 4 âm lịch
Dưới sự chỉ đạo của Hồ Quý Ly, triều đình thu hồi toàn bộ tiền đồng đúc khí giới và phát hành tiền giấy "Thông bảo hội sao". Đây là sự kiện phát hành tiền giấy chính thức đầu tiên trong lịch sử tiền tệ Việt Nam.
Chính sửHồ Quý Ly cho xây dựng thành Tây Đô
Năm 1397 · Mùa xuân
Hồ Quý Ly ép vua dời kinh đô vào động An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), cho khởi công xây dựng tòa thành đá quy mô lớn gọi là Tây Đô (Thành nhà Hồ). Toàn bộ công trình kiên cố bằng đá tảng này được hoàn thành thần tốc trong 3 tháng.
Chính sửHồ Quý Ly bức Trần Thiếu Đế nhường ngôi
Năm 1400 · Ngày 28/2 âm lịch
Hồ Quý Ly ép cháu ngoại là Trần Thiếu Đế thoái vị nhường ngôi báu, giáng vua cũ làm Bảo Ninh Đại Vương. Triều đại nhà Trần chính thức chấm dứt sau 175 năm trị vì với 12 đời vua.
Nhà Hồ
Chính sửHồ Quý Ly lên ngôi đổi quốc hiệu Đại Ngu
Năm 1400 · Ngày 28/2 âm lịch
Hồ Quý Ly lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu thành Đại Ngu, lấy niên hiệu Thánh Nguyên và đổi sang họ Lê nhận là dòng dõi Ngu Thuấn. Triều đại nhà Hồ được thiết lập, bắt đầu tiến hành hàng loạt cải cách thể chế.
Chính sửBan hành chính sách Hạn điền và Hạn nô
Năm 1401
Triều đình nhà Hồ thi hành chính sách quy định hạn mức sở hữu ruộng đất và người ở (nô tỳ) của quý tộc, quan lại; số lượng vượt mức quy định phải giao nộp cho nhà nước. Nhằm xóa bỏ thế lực điền trang quý tộc cũ và tăng nguồn thu ngân khố.
Chính sửHội nghị Đa Bang bàn kế sách kháng Minh
Năm 1406 · Tháng 9 âm lịch
Trước nguy cơ xâm lược của 80 vạn quân Minh do Trương Phụ chỉ huy, triều đình nhà Hồ họp bàn kế hoạch phòng thủ tại thành Đa Bang. Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng thốt lên lời nói nổi tiếng: "Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo".
Chính sửPhòng tuyến thành Đa Bang thất thủ
Năm 1407 · Ngày 12/12 âm lịch
Đại quân Minh do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy tập trung hỏa lực công phá ác liệt thành lũy then chốt Đa Bang. Đội tượng binh của quân Hồ hoảng loạn trước tên lửa và hỏa khí của địch quay đầu giẫm đạp, phòng tuyến trọng yếu hoàn toàn vỡ trận.
Chính sửCha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt sống
Năm 1407 · Tháng 5 âm lịch
Quân Minh truy kích ráo riết tàn quân Hồ đến vùng núi Cao Vọng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) và bắt sống Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương cùng triều thần tôn thất. Vương triều Hồ chính thức sụp đổ, nước ta rơi vào ách thống trị tàn bạo của nhà Minh.
Thuộc Minh
Chính sửTrần Ngỗi khởi binh lập nhà Hậu Trần
Năm 1407 · Ngày 2/10 âm lịch
Người con thứ của vua Trần Nghệ Tông là Trần Ngỗi được hào kiệt đất Mô Độ (Ninh Bình) tôn lên làm hoàng đế, lấy niên hiệu Hưng Khánh (Giản Định Đế). Phong trào vũ trang phục quốc quật cường của vương triều Hậu Trần bắt đầu bùng nổ.
Chính sửĐại thắng Bô Cô tiêu diệt tướng Minh
Năm 1408 · Ngày 14/12 âm lịch
Giản Định Đế cùng hai tướng giỏi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân chỉ huy quân Hậu Trần mai phục đánh tan đại quân Minh tại bến Bô Cô (Nam Định). Tổng binh Lữ Nghị và Thượng thư Lưu Tuấn của giặc bị chém chết tại trận, Mộc Thạnh tháo chạy thoát thân.
Chính sửTrần Quý Khoáng lên ngôi Trùng Quang Đế
Năm 1409 · Ngày 17/3 âm lịch
Sau khi Giản Định Đế nghe lời gièm pha sát hại oan hai danh tướng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, con cháu hai ông phò tá tôn Trần Quý Khoáng lên làm vua tại Chiêu Trưng (Hà Tĩnh). Đặt niên hiệu Trùng Quang, tiếp tục ngọn cờ cứu nước.
Chính sửPhong trào Hậu Trần thất thủ ở Thuận Hóa
Năm 1413 · Tháng 9 âm lịch
Trương Phụ dốc toàn bộ binh lực đánh úp căn cứ địa cuối cùng của nghĩa quân Hậu Trần tại Thuận Hóa. Vua Trùng Quang, Đặng Dung cùng toàn bộ bộ tướng bị sa vào tay giặc, phong trào kháng chiến của nhà Hậu Trần chính thức tan vỡ.
Chính sửHội thề Lũng Nhai định ước khởi nghĩa
Năm 1416 · Ngày 12/2 âm lịch
Lê Lợi cùng 18 vị anh hào chung chí hướng bí mật tổ chức đại lễ tế trời đất hội thề tại Lũng Nhai (Thường Xuân, Thanh Hóa). Toàn thể thề nguyền sống chết đồng lòng, quyết tâm đứng lên đánh đuổi giặc Minh giành lại độc lập cho non sông.
Chính sửLê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn
Năm 1418 · Ngày 2/1 âm lịch
Lê Lợi chính thức phát động khởi nghĩa tại vùng núi rừng Lam Sơn (Thanh Hóa), tự xưng Bình Định Vương và ban bố phong chức cho các tướng lĩnh. Mở đầu cuộc trường kỳ kháng chiến 10 năm gian khổ đánh đuổi quân Minh xâm lược.
Chính sửTrận Lạc Thủy phục kích đánh bại quân Minh
Năm 1418 · Ngày 13/1 âm lịch
Tướng Minh Mã Kỳ dẫn đại quân tiến sâu vào đàn áp căn cứ Lam Sơn. Lê Lợi khéo léo đặt phục binh ở hẻm hiểm Lạc Thủy nhử địch vào bẫy rồi bất ngờ xông ra đánh úp, chém chết hơn 3.000 tên giặc, làm thất bại đòn phủ đầu của địch.
Chính sửLê Lai liều mình cứu chúa tại núi Chí Linh
Năm 1419 · Tháng 4 âm lịch
Nghĩa quân Lam Sơn bị giặc vây hãm ngặt nghèo trên núi Chí Linh, lương thực cạn kiệt và lâm vào tình thế nguy nan tột độ. Tướng Lê Lai tình nguyện khoác long bào dẫn toán quân cảm tử xông ra đánh nghi binh để giặc bắt giết, cứu Lê Lợi thoát vòng vây an toàn.
Chính sửNguyễn Chích hiến kế tiến quân vào Nghệ An
Năm 1424 · Tháng 10 âm lịch
Tướng Nguyễn Chích hiến kế bỏ căn cứ rừng núi Thanh Hóa hiểm trở, bất ngờ mở đường chuyển quân vào đất Nghệ An đất rộng người đông để gây dựng cơ đồ. Lê Lợi đồng thuận và lập tức giành thắng lợi lớn ở trận Bồ Đằng, mở ra bước ngoặt chiến lược của khởi nghĩa.
Chính sửĐại thắng Tốt Động - Chúc Động
Năm 1426 · Ngày 5/10 - 7/10 âm lịch
Nghĩa quân Lam Sơn do Lý Triện, Đinh Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy mai phục chặn đánh 10 vạn viện binh giặc do Vương Thông cầm đầu tại Tốt Động - Chúc Động. Quân Minh đại bại thảm hại chết hơn 5 vạn tên, Vương Thông hoảng loạn chạy tháo thân vào thành Đông Quan cố thủ.
Chính sửNghĩa quân Lam Sơn hạ thành Xương Giang
Năm 1427 · Ngày 28/9 âm lịch
Sau hơn 9 tháng kiên trì công phá, các tướng Thái úy Trần Nguyên Hãn và Lê Sát chỉ huy nghĩa quân đánh hạ và tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thành Xương Giang. Cứ điểm quan trọng bị triệt hạ đã cắt đứt hoàn toàn đầu cầu tiếp ứng của viện binh Liễu Thăng.
Chính sửTrận Chi Lăng chém đầu tướng Liễu Thăng
Năm 1427 · Ngày 20/9 âm lịch
Đạo viện binh 10 vạn giặc do Tổng binh Liễu Thăng hùng hổ vượt biên ải Chi Lăng. Tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú phục kích đánh tan tác toán tiên phong, chém đứt đầu Liễu Thăng tại chân núi Mã Yên, mở đầu sự tiêu diệt đạo quân cứu viện nhà Minh.
Chính sửHội thề Đông Quan chấm dứt chiến tranh
Năm 1427 · Ngày 22/11 âm lịch
Lâm vào bước đường cùng không còn viện binh, Tổng binh Vương Thông xin hàng và dự Hội thề phía nam thành Đông Quan cùng Lê Lợi thề rút toàn bộ quân về nước. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng vẻ vang, chấm dứt 20 năm đô hộ tàn khốc của nhà Minh.
Lê sơ
Chính sửLê Lợi lên ngôi Hoàng đế
Năm 1428 · Ngày 15/4 âm lịch
Lê Lợi làm lễ lên ngôi hoàng đế tại điện Kính Thiên (Đông Kinh), đại xá thiên hạ, đặt niên hiệu Thuận Thiên. Quốc hiệu Đại Việt chính thức được khôi phục, mở đầu triều Lê sơ.
Chính sửLê Thái Tổ băng hà
Năm 1433 · Ngày 22/8 âm lịch
Vua Lê Thái Tổ qua đời tại điện Ngọc Thanh sau 6 năm trị vì, thọ 49 tuổi. Triều đình an táng vua tại Vĩnh Lăng (Lam Sơn, Thanh Hóa).
Chính sửLê Thái Tông lên ngôi
Năm 1433 · Ngày 8/9 âm lịch
Thái tử Lê Nguyên Long lên ngôi hoàng đế trước linh cữu vua cha khi mới 11 tuổi, đổi niên hiệu là Thiệu Bình. Đại tư đồ Lê Sát được giao trọng trách phụ chính.
Chính sửLê Thái Tông mất tại Lệ Chi Viên
Năm 1442 · Ngày 4/8 âm lịch
Vua Lê Thái Tông đi tuần miền đông, duyệt quân ở Chí Linh rồi về ngự tại Lệ Chi Viên (Gia Bình) thì đột ngột qua đời trong đêm. Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ hầu bên cạnh bị nghi ngờ hãm hại vua.
Chính sửHành quyết ba họ Nguyễn Trãi
Năm 1442 · Ngày 16/8 âm lịch
Triều đình kết án tru di tam tộc dòng họ Nguyễn Trãi do liên đới trong thảm án Lệ Chi Viên. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới chính thức giải oan và truy tặng tước vị cho ông.
Chính sửLê Nhân Tông lên ngôi
Năm 1442 · Ngày 12/8 âm lịch
Hoàng thái tử Lê Bang Cơ được tôn lên ngôi hoàng đế khi chưa đầy 2 tuổi, đổi niên hiệu là Thái Hòa. Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính chỉ đạo việc triều chính.
Chính sửBinh biến Lê Nghi Dân
Năm 1459 · Ngày 25/10 âm lịch
Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm dẫn thuộc hạ bắc thang trèo tường vào cung cấm sát hại vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh. Nghi Dân tự lập làm vua, đổi niên hiệu Thiên Hưng.
Chính sửLê Thánh Tông lên ngôi
Năm 1460 · Ngày 8/6 âm lịch
Các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt làm binh biến trừ khử phe tiếm nghịch Lê Nghi Dân, nghênh đón Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi. Triều đại của Lê Thánh Tông mở ra giai đoạn cực thịnh của vương triều Lê sơ.
Chính sửLê Thánh Tông hạ thành Đồ Bàn
Năm 1471 · Ngày 1/3 âm lịch
Quân đội Đại Việt do đích thân Lê Thánh Tông chỉ huy công phá kinh thành Đồ Bàn, bắt sống vua Chiêm Trà Toàn. Vua sáp nhập vùng đất từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông, thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam.
Chính sửDựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu
Năm 1484 · Ngày 15/8 âm lịch
Vua Lê Thánh Tông sai lập bia đá đề danh tiến sĩ từ khoa thi Nhâm Tuất (1442) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Bài văn bia do Thân Nhân Trung soạn khẳng định tư tưởng: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".
Chính sửLê Thánh Tông băng hà
Năm 1497 · Ngày 30/1 âm lịch
Vua Lê Thánh Tông băng hà tại điện Bảo Quang, thọ 56 tuổi, để lại di sản đồ sộ về cải cách hành chính, luật pháp và lãnh thổ. Thái tử Lê Tranh lên nối ngôi, tức vua Lê Hiến Tông.
Chính sửLê Uy Mục bị phế và bức tử
Năm 1509 · Ngày 1/12 âm lịch
Giản Tu công Lê Oanh dấy binh đánh chiếm kinh thành, bắt giam vua Lê Uy Mục. Uy Mục bị bức uống thuốc độc tự sát, Lê Oanh lên ngôi hoàng đế tức vua Lê Tương Dực.
Chính sửKhởi nghĩa Trần Cảo bùng nổ
Năm 1516 · Ngày 6/3 âm lịch
Trần Cảo dấy binh khởi nghĩa tại Thủy Đường (Hải Phòng), cạo đầu tự xưng là Đế Thích giáng trần rồi tiến quân đánh phá Thăng Long. Sự biến đẩy vương triều Lê sơ lún sâu vào khủng hoảng nội trị.
Nhà Mạc
Chính sửMạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê
Năm 1527 · Ngày 15/6 âm lịch
Thái sư Mạc Đăng Dung ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi, lập ra triều Mạc, đổi niên hiệu là Minh Đức. Vương triều Lê sơ chấm dứt, đất nước bước vào thời kỳ Nam - Bắc triều.
Chính sửMạc Đăng Dung nộp đất tại Trấn Nam Quan
Năm 1540 · Ngày 3/11 âm lịch
Mạc Đăng Dung cùng cháu là Mạc Phúc Hải lên cửa ải nộp sổ sách, tự trói chịu tội và dâng đất 6 động thuộc Khâm Châu cho nhà Minh nhằm tránh chiến tranh xâm lược. Nhà Minh hạ chiếu giáng nước ta xuống làm An Nam đô thống sứ ty.
Lê Trung Hưng
Chính sửLê Trang Tông phục hưng triều Lê
Năm 1533
Bề tôi cũ là An Hòa hầu Nguyễn Kim tìm được con vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh ở Ai Lao rồi tôn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Nguyên Hòa. Sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Lê Trung Hưng.
Chính sửNguyễn Kim bị đầu độc ám sát
Năm 1545 · Ngày 20/5 âm lịch
Hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất lừa dâng dưa hấu có tẩm độc khiến Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim qua đời đột ngột. Quyền bính quân sự của Nam triều sau đó rơi trọn vào tay con rể ông là Trịnh Kiểm.
Chính sửNguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa
Năm 1558 · Tháng 10 âm lịch
Lo sợ bị anh rể Trịnh Kiểm mưu hại, Đoan quận công Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ xứ Thuận Hóa để tìm kế lâu dài. Mốc thời gian này mở đầu quá trình mở cõi về phương Nam của các chúa Nguyễn.
Chính sửTrịnh Kiểm qua đời
Năm 1570 · Ngày 24/3 âm lịch
Thái quốc công Lượng quốc vương Trịnh Kiểm qua đời, quyền bính ban đầu được giao cho Trịnh Cối. Trịnh Tùng nhanh chóng đoạt lấy binh quyền từ anh trai, trở thành người đứng đầu họ Trịnh phụng sự triều Lê.
Chính sửQuân Nam triều thu phục Thăng Long
Năm 1592 · Ngày 4/12 âm lịch
Tiết chế Trịnh Tùng đốc suất đại quân Nam triều tổng công kích phá tan tàn quân Mạc, bắt sống Mạc Mậu Hợp mang về xử tử tại Thăng Long. Họ Mạc thất thế phải rút chạy lên vùng biên ải Cao Bằng.
Chính sửLê Thế Tông hồi loan Thăng Long
Năm 1593 · Ngày 16/4 âm lịch
Trịnh Tùng rước xa giá vua Lê Thế Tông cùng triều đình từ Vạn Lại (Thanh Hóa) trở về lại kinh đô Thăng Long. Từ mốc này, mô hình quyền lực song trùng "vua Lê - chúa Trịnh" bắt đầu hình thành thực tế.
Chính sửKhởi đầu Trịnh - Nguyễn phân tranh
Năm 1627 · Tháng 3 âm lịch
Chúa Trịnh Tráng lấy cớ chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế cống bèn mang đại quân Nam tiến đánh Thuận Hóa. Cuộc nội chiến kéo dài gần nửa thế kỷ giữa hai dòng họ chính thức bùng phát.
Chính sửĐào Duy Từ đắp Lũy Thầy
Năm 1630
Quân sư Đào Duy Từ hiến kế và đốc thúc xây dựng hệ thống lũy Trường Dục và Nhật Lệ (Quảng Bình) vô cùng kiên cố. Công trình phòng ngự này giúp quân chúa Nguyễn nhiều lần bẻ gãy các đợt tiến công của quân Trịnh.
Chính sửTrận chiến đình chiến sông Gianh
Năm 1672 · Tháng 10 âm lịch
Chúa Trịnh Tạc dốc binh lực Nam tiến vây hãm lũy Trấn Ninh nhiều tháng nhưng bị tướng Nguyễn Hữu Dực đánh bại. Hai bên kiệt quệ đồng ý ngưng chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Chính sửTiêu diệt họ Mạc ở Cao Bằng
Năm 1677 · Tháng 8 âm lịch
Chúa Trịnh sai Đinh Văn Tả đem quân tiến đánh sào huyệt Cao Bằng, đánh tan lực lượng của Mạc Kính Vũ. Thế lực họ Mạc cát cứ vùng biên giới phía Bắc hoàn toàn bị dẹp bỏ.
Chính sửNguyễn Hữu Cảnh kinh lược Gia Định
Năm 1698 · Tháng 2 âm lịch
Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược phương Nam, lập phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình. Sự kiện đánh dấu việc chính thức xác lập bộ máy hành chính nhà nước tại vùng đất Nam Bộ.
Chính sửMạc Cửu dâng đất Hà Tiên
Năm 1708 · Tháng 8 âm lịch
Mạc Cửu – người có công quy tập dân lưu tán khai phá dải đất Măng Khảm dẫn thuộc hạ dâng toàn bộ vùng đất Hà Tiên xin nội thuộc chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp nhận và phong ông làm Tổng binh trấn Hà Tiên.
Chính sửChúa Nguyễn Phúc Khoát xưng Vương
Năm 1744 · Ngày 12/4 âm lịch
Chúa Nguyễn Phúc Khoát chính thức lên ngôi vương tại phủ Phú Xuân, đổi phủ làm điện, cải tổ quan chế và cho đúc ấn vàng "Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo". Đàng Trong khẳng định vị thế một thực thể vương quốc độc lập hoàn toàn.
Chính sửChúa Trịnh đánh chiếm Phú Xuân
Năm 1774 · Ngày 15/11 âm lịch
Nhân lúc chúa Nguyễn suy sụp và bị Tây Sơn uy hiếp, chúa Trịnh Sâm cử Hoàng Ngũ Phúc đem đại quân vượt sông Gianh đánh chiếm kinh thành Phú Xuân. Định vương Nguyễn Phúc Thuần cùng hoàng tộc phải trốn chạy vào Gia Định.
Tây Sơn
Chính sửKhởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ
Năm 1771
Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ phất cờ khởi nghĩa tại ấp Tây Sơn (Bình Định) với khẩu hiệu diệt quyền thần Trương Phúc Loan, lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo. Ngọn cờ Tây Sơn nhanh chóng lan rộng khắp cõi Đàng Trong.
Chính sửTây Sơn tiêu diệt hai chúa Nguyễn
Năm 1777 · Tháng 9 âm lịch
Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến công Gia Định, bắt và giết hai chúa Nguyễn là Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương. Nguyễn Ánh may mắn trốn thoát rồi tập hợp lực lượng kháng cự.
Chính sửNguyễn Nhạc xưng Hoàng đế
Năm 1778
Nguyễn Nhạc làm lễ lên ngôi hoàng đế tại thành Đồ Bàn (Quy Nhơn), lấy niên hiệu Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân. Vương triều Tây Sơn chính thức xác lập vị thế triều đại độc lập.
Chính sửĐại thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Năm 1785 · Ngày 9/12 âm lịch
Đêm 9 rạng ngày 10 tháng 12 năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ nhử liên quân Xiêm - Nguyễn vào trận địa mai phục trên sông Tiền rồi tiêu diệt gần 5 vạn quân giặc. Toàn bộ thuyền chiến và tướng chỉ huy quân Xiêm bị phá tan tác tháo chạy về nước.
Chính sửNguyễn Huệ tiến chiếm Thăng Long
Năm 1786 · Ngày 26/6 âm lịch
Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đánh tan quân Trịnh, tiến vào giải phóng Thăng Long; chúa Trịnh Khải trốn chạy rồi tự vẫn. Nguyễn Huệ vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, trao lại quyền bính cho nhà Lê và được gả công chúa Lê Ngọc Hân.
Chính sửNguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế
Năm 1788 · Ngày 25/11 âm lịch
Được tin 29 vạn quân Mãn Thanh kéo vào chiếm đóng Thăng Long, Nguyễn Huệ làm lễ tế cáo trời đất tại núi Bân (Huế) lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung. Ngay sau đó ông thúc đại quân thần tốc hành quân ra Bắc đánh giặc.
Chính sửĐại thắng Ngọc Hồi - Đống Đa
Năm 1789 · Ngày 5/1 âm lịch
Rạng sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu, đại quân Tây Sơn đồng loạt công phá các đồn lũy Ngọc Hồi và Khương Thượng - Đống Đa, đè bẹp hoàn toàn quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy tán loạn, vua tôi Lê Chiêu Thống trốn sang Trung Quốc lưu vong.
Chính sửHoàng đế Quang Trung băng hà
Năm 1792 · Ngày 29/7 âm lịch
Vua Quang Trung lâm bệnh nặng đột ngột qua đời tại Phú Xuân khi mới 40 tuổi, để lại sự nghiệp chấn hưng dang dở. Con nhỏ là Nguyễn Quang Toản (10 tuổi) nối ngôi tức vua Cảnh Thịnh, khiến triều đình Tây Sơn rơi vào lục đục nội bộ.
Nhà Nguyễn
Chính sửNguyễn Ánh tái chiếm Phú Xuân
Năm 1801 · Ngày 3/5 âm lịch · dương lịch 13/06/1801
Thủy bộ quân của Nguyễn Ánh mở đợt tổng tấn công quy mô lớn, đánh tan quân thủy Tây Sơn và thu phục kinh thành Phú Xuân. Vua tôi Cảnh Thịnh phải bỏ chạy ra Bắc Hà, tạo bước ngoặt định đoạt cục diện chiến tranh.
Chính sửNguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế Gia Long
Năm 1802 · Ngày 2/5 âm lịch · dương lịch 01/06/1802
Nguyễn Phúc Ánh lập đàn tế cáo trời đất tại An Ninh (Huế), lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Gia Long. Sau đó ông chỉ huy quân ra Bắc diệt hoàn toàn triều Tây Sơn, thống nhất giang sơn từ Ải Nam Quan đến Cà Mau.
Chính sửĐịnh quốc hiệu Việt Nam
Năm 1804 · Ngày 17/2 âm lịch
Vua Gia Long ban chiếu tuyên bố định quốc hiệu là "Việt Nam" sau khi triều đình nhà Thanh gửi chiếu thư và quốc ấn công nhận. Tên gọi chính thức được bố cáo cho toàn thể nhân dân trong nước biết.
Chính sửGia Long cử hành đại lễ xưng Hoàng đế
Năm 1806 · Ngày 1/5 âm lịch
Sau khi bình định trọn vẹn Bắc Hà và củng cố triều chính, vua Gia Long làm lễ đại triều tại điện Thái Hòa, chính thức tấn tôn danh hiệu Hoàng đế, đặt quy chế mũ áo triều phục và điển lễ cung đình.
Chính sửBan hành Hoàng Việt luật lệ
Năm 1815 · Tháng 10 âm lịch
Vua Gia Long cho ban hành bộ luật hoàn chỉnh gồm 398 điều chia làm 22 quyển do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành chủ trì biên soạn (thường gọi là Luật Gia Long). Đây là bộ pháp điển lớn cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.
Chính sửMinh Mạng lên ngôi Hoàng đế
Năm 1820 · Ngày 1/1 âm lịch · dương lịch 14/02/1820
Vua Gia Long mất ngày 28/12 Kỷ Mão; đến ngày mùng 1 tháng Giêng năm Canh Thìn, Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Đảm ngự điện Thái Hòa lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Minh Mạng.
Chính sửMinh Mạng cải cách hành chính đợt một
Năm 1831 · Ngày 4/10 âm lịch
Vua Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Thành, chia đặt toàn bộ miền Bắc từ Quảng Bình trở ra thành 18 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Sự kiện mở đầu cuộc cải tổ hành chính sâu rộng nhằm nhất thể hóa quyền lực trung ương.
Chính sửCải cách hành chính chia đặt Nam Kỳ
Năm 1832 · Ngày 2/10 âm lịch
Sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng giải thể chức Tổng trấn Gia Định Thành, chia miền Nam thành 6 tỉnh (Nam Kỳ Lục tỉnh). Cả nước từ đây chính thức thống nhất cơ cấu gồm 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên.
Chính sửKhởi nghĩa Lê Văn Khôi bùng nổ
Năm 1833 · Ngày 18/5 âm lịch
Lê Văn Khôi (con nuôi Lê Văn Duyệt) lãnh đạo binh lính nổi dậy chiếm thành Phiên An (Gia Định), giết chết Tổng đốc Nguyễn Văn Quế và Bố chính Bạch Xuân Nguyên. Khởi nghĩa chiếm giữ 6 tỉnh Nam Kỳ suốt hơn hai năm trước khi bị dẹp tan.
Chính sửĐổi quốc hiệu thành Đại Nam
Năm 1838 · Ngày 15/2 âm lịch
Vua Minh Mạng ban chỉ dụ đổi quốc hiệu nước ta thành "Đại Nam" (hoặc Đại Việt Nam) nhằm khẳng định vị thế một đế quốc độc lập, hùng mạnh ở phương Nam. Quốc hiệu này được sử dụng liên tục đến năm 1945.
Chính sửTrận hải chiến Tourane (Đà Nẵng)
Năm 1847 · Ngày 1/3 âm lịch · dương lịch 15/04/1847
Hai chiến hạm Pháp Gloire và Victorieuse nổ súng bắn chìm 5 thuyền đồng của thủy quân triều Nguyễn tại vịnh Đà Nẵng với cớ đòi thả các giáo sĩ. Đây là cuộc chạm trán vũ trang trực diện đầu tiên giữa hải quân Pháp và triều đình Huế.
Chính sửLiên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng
Năm 1858 · Ngày 24/7 âm lịch · dương lịch 01/09/1858
Hạm đội liên quân do Chuẩn đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy nã pháo tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Triều đình cử tướng Nguyễn Tri Phương vào lập phòng tuyến chặn giặc.
Chính sửQuân Pháp đánh chiếm thành Gia Định
Năm 1859 · Ngày 15/1 âm lịch · dương lịch 17/02/1859
Bị giằng co bế tắc ở Đà Nẵng, quân Pháp chuyển hướng đưa chiến thuyền vào sông Sài Gòn đánh phá thành Gia Định. Hộ đốc Võ Duy Ninh tử thủ không thành đã tự vẫn; quân Pháp sau đó phá hủy kho tàng và đốt rụi thành trì.
Chính sửKý kết Hòa ước Nhâm Tuất
Năm 1862 · Ngày 9/5 âm lịch · dương lịch 05/06/1862
Triều đình Tự Đức cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp ký hòa ước với Pháp và Tây Ban Nha tại Sài Gòn, chấp thuận nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và đảo Côn Lôn cho Pháp, bồi thường 4 triệu quan chiến phí.
Chính sửPháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ
Năm 1867 · Ngày 19/5 âm lịch · dương lịch 20/06/1867
Thống đốc De La Grandière đưa hạm đội vây bức thành Vĩnh Long, ép Kinh lược sứ Phan Thanh Giản nộp thành để tránh thương vong cho quân dân. Quân Pháp chiếm trọn Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; Phan Thanh Giản sau đó uống thuốc độc tự vẫn.
Chính sửFrancis Garnier đánh chiếm thành Hà Nội
Năm 1873 · Ngày 1/10 âm lịch · dương lịch 20/11/1873
Đại úy Francis Garnier chỉ huy quân Pháp bất ngờ nổ súng công phá và hạ thành Hà Nội lần thứ nhất. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, bị bắt rồi tuyệt thực tuẫn tiết giữ tròn trung nghĩa.
Chính sửTrận Cầu Giấy lần thứ nhất
Năm 1873 · Ngày 2/11 âm lịch · dương lịch 21/12/1873
Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phối hợp với quân triều đình tổ chức phục kích Garnier tại Cầu Giấy (Hà Nội), bắn chết viên chỉ huy này tại trận. Quân Pháp hoảng loạn phải dừng các hoạt động bành trướng ở Bắc Kỳ.
Chính sửKý kết Hòa ước Giáp Tuất
Năm 1874 · Ngày 27/1 âm lịch · dương lịch 15/03/1874
Đại diện triều Nguyễn là Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường ký kết hiệp ước tại Sài Gòn với Thống đốc Dupré, chính thức công nhận toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc quyền cai trị của Pháp. Đổi lại, Pháp rút quân khỏi các tỉnh Bắc Kỳ.
Chính sửHenri Rivière đánh chiếm thành Hà Nội
Năm 1882 · Ngày 8/3 âm lịch · dương lịch 25/04/1882
Đại tá Henri Rivière gửi tối hậu thư rồi đưa quân công phá cửa Bắc thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu chỉ huy quân sĩ chiến đấu anh dũng; khi thành thất thủ, ông vào đền Võ Miếu thắt cổ tự vẫn để không rơi vào tay giặc.
Chính sửTrận Cầu Giấy lần thứ hai
Năm 1883 · Ngày 13/4 âm lịch · dương lịch 19/05/1883
Đội quân Cờ Đen phối hợp quân thứ của Hoàng Kế Viêm tiếp tục tổ chức trận địa mai phục tại Cầu Giấy, tiêu diệt chỉ huy trưởng Henri Rivière cùng nhiều sĩ quan Pháp. Thất bại này thúc đẩy nghị viện Pháp thông qua ngân sách đem quân viễn chinh đánh chiếm toàn bộ Việt Nam.
Chính sửPháp tấn công cửa biển Thuận An
Năm 1883 · Ngày 16/7 âm lịch · dương lịch 18/08/1883
Hạm đội Pháp dưới quyền Đô đốc Courbet nã pháo dữ dội và đổ bộ chiếm đóng các đồn lũy cửa biển Thuận An, khống chế đường vào kinh đô Huế. Vua Tự Đức vừa qua đời, triều đình rúng động buộc phải xin đình chiến để đàm phán.
Chính sửKý kết Hòa ước Quý Mùi (Harmand)
Năm 1883 · Ngày 23/7 âm lịch · dương lịch 25/08/1883
Triều đình Huế ký hiệp ước 27 điều khoản với Tổng ủy Jules Harmand, chính thức thừa nhận chế độ bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Pháp nắm quyền kiểm soát tuyệt đối về chính trị, kinh tế và ngoại giao của Đại Nam.
Chính sửKý kết Hòa ước Giáp Thân (Patenôtre)
Năm 1884 · Ngày 13/5 âm lịch · dương lịch 06/06/1884
Khâm sai Pháp Jules Patenôtre cùng đoàn đại biểu triều đình ký hiệp ước mới gồm 19 điều khoản sửa đổi hiệp ước 1883. Bản hiệp ước này chính thức xác lập chế độ thuộc địa và bảo hộ của Pháp, kết thúc thời kỳ độc lập của triều Nguyễn.
Chính sửBinh biến phục kích tại kinh thành Huế
Năm 1885 · Ngày 23/5 âm lịch · dương lịch 05/07/1885
Nửa đêm 22 rạng sáng 23 tháng 5 năm Ất Dậu, phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu hạ lệnh nổ súng tấn công đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ Pháp. Bị phản công dữ dội, Tôn Thất Thuyết phò giá vua trẻ Hàm Nghi rời kinh thành chạy ra Quảng Trị kháng chiến.
Chính sửVua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương
Năm 1885 · Ngày 2/6 âm lịch · dương lịch 13/07/1885
Tại căn cứ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), vua Hàm Nghi hạ Chiếu Cần Vương kêu gọi các bậc sĩ phu, văn thân và nhân dân cả nước đồng lòng phò vua đánh đuổi giặc Pháp. Phong trào Cần Vương bùng nổ mạnh mẽ khắp Bắc Kỳ và Trung Kỳ suốt hơn 10 năm.
Chính sửThành lập Liên bang Đông Dương
Năm 1887 · Ngày 17/10/1887
Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên (sau sáp nhập thêm Lào và Quảng Châu Loan) đặt dưới quyền cai trị của Toàn quyền Đông Dương. Cơ cấu hành chính thực dân chính thức hoàn thiện.
Chính sửVua Hàm Nghi bị giặc bắt
Năm 1888 · Ngày 26/9 âm lịch · dương lịch 30/10/1888
Do sự phản bội của Trương Quang Ngọc chỉ điểm, quân Pháp ập vào bắt giữ vua Hàm Nghi tại căn cứ Tuyên Hóa (Quảng Bình). Sau đó nhà vua bị thực dân Pháp đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi cho đến khi qua đời.
Chính sửThủ lĩnh Phan Đình Phùng hy sinh
Năm 1895 · Ngày 13/11 âm lịch · dương lịch 28/12/1895
Lãnh tụ khởi nghĩa Hương Khê Phan Đình Phùng qua đời vì bệnh nặng tại căn cứ Vụ Quang (Hà Tĩnh). Nghĩa quân bị thực dân Pháp vây quét ráo riết và tan rã vào đầu năm 1896, khép lại phong trào Cần Vương chống Pháp.
Chính sửThành lập Hội Duy Tân
Năm 1904
Phan Bội Châu cùng Nguyễn Hàm và một số nhân sĩ họp bí mật tại Quảng Nam, thành lập Duy Tân hội với mục tiêu chấm dứt ách cai trị của Pháp, khôi phục độc lập. Kỳ Ngoại hầu Cường Để được suy tôn làm Hội chủ.
Chính sửBùng nổ phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ
Năm 1908 · Ngày 09/03/1908
Khởi nguồn từ huyện Đại Lộc (Quảng Nam), hàng ngàn nông dân kéo lên tỉnh lỵ biểu tình bất bạo động, đòi giảm sưu thuế và xâu dịch. Phong trào nhanh chóng lan ra các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên trước khi bị chính quyền thuộc địa Pháp đàn áp.
Chính sửNguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi
Năm 1911 · Ngày 9/5 âm lịch · dương lịch 05/06/1911
Nguyễn Tất Thành (lấy tên Văn Ba) lên tàu buôn Amiral Latouche-Tréville rời cảng Sài Gòn sang phương Tây, bắt đầu hành trình tìm con đường cứu nước mới.
Chính sửHoàng Hoa Thám bị sát hại
Năm 1913 · Ngày 5/1 âm lịch · dương lịch 10/02/1913
Thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế Hoàng Hoa Thám bị những người làm việc cho chính quyền Pháp sát hại tại khu vực Hố Lèo (Bắc Giang). Phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế, kéo dài gần 30 năm, chấm dứt.
Chính sửKhởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại Huế
Năm 1916 · Ngày 2/4 âm lịch · dương lịch 03/05/1916
Thái Phiên và Trần Cao Vân bí mật chuẩn bị khởi nghĩa, đưa vua Duy Tân ra khỏi hoàng thành Huế để lãnh đạo kháng chiến nhưng kế hoạch bị lộ. Vua Duy Tân bị bắt và bị đày sang đảo Réunion; những người chỉ huy chủ chốt bị chính quyền Pháp xử chém tại An Hòa.
Chính sửNhật đảo chính Pháp tại Đông Dương
Năm 1945 · Ngày 25/1 âm lịch · dương lịch 09/03/1945
Quân đội Nhật bất ngờ nổ súng tấn công, tước vũ khí quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương, chấm dứt quyền cai trị của Pháp kéo dài hơn 80 năm. Vua Bảo Đại sau đó tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ ký với Pháp và lập chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng.
Chính sửVua Bảo Đại thoái vị
Năm 1945 · Ngày 23/7 âm lịch · dương lịch 30/08/1945
Tại lầu Ngọ Môn (Huế), vua Bảo Đại đọc Tuyên ngôn thoái vị với câu "thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ", trao ấn kiếm hoàng gia cho phái đoàn đại diện Chính phủ lâm thời. Triều Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam chấm dứt.
Việt Nam hiện đại
Chính sửThành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm 1930 · Ngày 5/1 âm lịch · dương lịch 03/02/1930
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản diễn ra tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, quyết định thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện được đánh giá là chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc.
Chính sửKhởi nghĩa Yên Bái bùng nổ
Năm 1930 · Ngày 12/1 âm lịch · dương lịch 10/02/1930
Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo phát động cuộc nổi dậy vũ trang, đánh chiếm đồn Yên Bái và một số địa phương lân cận. Khởi nghĩa nhanh chóng bị quân Pháp dập tắt; Nguyễn Thái Học cùng 12 đảng viên bị xử chém ngày 17/6/1930.
Chính sửKhởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ
Năm 1940 · Ngày 24/10 âm lịch · dương lịch 23/11/1940
Đêm 22 rạng sáng 23/11/1940, Xứ ủy Nam Kỳ lãnh đạo người dân nổi dậy đồng loạt tại hầu khắp các tỉnh miền Nam; lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong các cuộc biểu tình. Chính quyền Pháp đàn áp trên quy mô lớn, bắt và xử bắn nhiều lãnh đạo Đảng.
Chính sửThành lập Mặt trận Việt Minh
Năm 1941 · Ngày 24/4 âm lịch · dương lịch 19/05/1941
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại lán Khuổi Nặm (Pác Bó, Cao Bằng) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc bế mạc, thống nhất đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh).
Chính sửThành lập Đội VN Tuyên truyền Giải phóng quân
Năm 1944 · Ngày 8/11 âm lịch · dương lịch 22/12/1944
Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng) gồm 34 chiến sĩ do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ngay sau đó, đội liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần.
Chính sửKhởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội
Năm 1945 · Ngày 12/7 âm lịch · dương lịch 19/08/1945
Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội, hàng vạn người dự mít tinh tại Nhà hát Lớn, sau đó chuyển thành biểu tình tuần hành vũ trang, chiếm Phủ Khâm sai, Tòa Thị chính và Trại Bảo an binh. Kết quả tại Hà Nội tác động lớn tới Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.
Chính sửTuyên ngôn Độc lập khai sinh nước VNDCCH
Năm 1945 · Ngày 26/7 âm lịch · dương lịch 02/09/1945
Tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện mở đầu thời kỳ độc lập của Việt Nam.

