Tranh minh họa của licham.app về Lý Thường KiệtTranh minh họa, không phải chân dung hay tư liệu lịch sử
Lý – Trần · Nhà Lý

Lý Thường Kiệt

Ngô Tuấn (theo thuyết họ Ngô) · Quách Tuấn (theo văn bia thời Lý) · Việt quốc công (tước truy phong)

Danh tướng nhà Lý, chỉ huy cuộc tiến công các châu Khâm, Liêm, Ung (1075–1076) và lập phòng tuyến sông Như Nguyệt đánh bại quân Tống xâm lược.

Một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố năm 2013

Niên đại
1019 – 1105
Triều đại
Nhà Lý
Quê quán
Phường Thái Hòa, thành Thăng Long; có thuyết cho quê gốc ở làng An Xá (Cơ Xá, Gia Lâm), Hà Nội

Tiểu sử

Lý Thường Kiệt tên Tuấn, tự Thường Kiệt; họ gốc là Ngô hay Quách vẫn còn tranh luận, họ Lý là quốc tính được vua ban. Gia đình ông nối đời làm quan. Năm 1041, ông vào hầu vua Lý Thái Tông, về sau giữ nhiều chức vụ quan trọng qua ba triều Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông.

Năm 1069, ông làm tiên phong theo vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chế Củ và nhờ công ấy được ban quốc tính. Khi vua Lý Nhân Tông còn nhỏ, ông giữ vai trò phụ chính. Năm 1075–1076, ông chủ động đem quân đánh các châu Khâm, Liêm, Ung của nhà Tống, rồi lập phòng tuyến sông Như Nguyệt đẩy lùi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy.

Về già, ông trấn trị Thanh Hóa 19 năm, vẫn cầm quân dẹp loạn ở Diễn Châu (1103) và đánh lui quân Chiêm Thành (1104). Ông mất tháng 6 năm Ất Dậu (1105), thọ 86 tuổi, được truy phong Việt quốc công.

Bối cảnh lịch sử

Năm 1075, Vương An Thạch nắm quyền chính ở nhà Tống, cho rằng Đại Việt suy yếu sau chiến tranh với Chiêm Thành nên có thể đánh chiếm. Nhà Tống ngầm luyện quân, đóng thuyền, tập thủy chiến ở vùng biên giới và cấm các châu huyện buôn bán với Đại Việt.

Trước nguy cơ đó, triều Lý chủ động đem quân đánh vào các căn cứ tập kết của quân Tống, rồi chuẩn bị phòng tuyến chờ quân Tống sang.

Công trạng

  • Lập phòng tuyến sông Như Nguyệt, đẩy lùi cuộc xâm lược của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy.
  • Năm 1069 làm tiên phong đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chế Củ.
  • Năm 1075–1076 chỉ huy đánh chiếm các châu Khâm, Liêm, Ung, phá căn cứ tập kết quân của nhà Tống.
  • Chủ động sai sứ nghị hòa để quân Tống rút về, kết thúc chiến tranh.
  • Bài thơ Nam quốc sơn hà tương truyền gắn với ông trong cuộc chiến ở sông Như Nguyệt.

Sự kiện tiêu biểu

  1. 1041Vào hầu vua Lý Thái Tông với chức Hoàng môn Chi hậu
  2. 1069Theo vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, được ban quốc tính
  3. 1075Đem thủy quân đổ bộ, chiếm thành Khâm Châu, tiếp đó hạ Liêm Châu
  4. 1076Hạ thành Ung Châu; lập phòng tuyến sông Như Nguyệt chặn quân Tống
  5. 1104Đánh bại quân Chiêm, buộc Chiêm Thành trả lại đất ba châu
  6. 1105Mất, được truy phong Việt quốc công

Di tích, đền thờ và ngày tưởng niệm

  • Phòng tuyến sông Như NguyệtSông Như Nguyệt (sông Cầu), Yên Phong, Bắc Ninh
  • Đền thờ Trương Hống, Trương Hát, nơi tương truyền vang lên bài Nam quốc sơn hàBên sông Như Nguyệt, Yên Phong, Bắc Ninh
  • Chùa Phúc Xá, nơi lưu giữ chuông An Xá tự chung ghi đất tổ nghiệp của ôngBắc Biên, Long Biên, Hà Nội

Nguồn tư liệu

  • Wikipedia tiếng Việt, “Lý Thường Kiệt” — nguồn tóm lược niên đại, quê quán và sự kiện; truy cập 24/9/2026.
  • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, văn bản số 2296/BVHTTDL-MTNATL (21/6/2013) về 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu.
  • Tranh minh họa, không phải chân dung hay tư liệu lịch sử.

Anh hùng dân tộc khác