Văn hoá Sa Huỳnh

Nguồn tham khảo
- Viện Khảo cổ học
- Madeleine Colani (1934)
- Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Văn hoá Sa Huỳnh khoảng 1500 TCN đến thế kỷ I–II SCN; giai đoạn điển hình thế kỷ V TCN – đầu Công nguyên. Phát hiện năm 1909 (M. Vinet, đầm An Khê, Quảng Ngãi); định danh bởi nữ khảo cổ Pháp Madeleine Colani năm 1934. Đây là cội nguồn bản địa của vương quốc Lâm Ấp – Champa (thành lập năm 192 SCN).
Địa bàn
Dải ven biển miền Trung từ Quảng Bình tới Bình Thuận, lan lên Tây Nguyên. Các di chỉ tiêu biểu:
- Sa Huỳnh (Quảng Ngãi): trung tâm định danh.
- Long Thạnh (Quảng Ngãi): giai đoạn Tiền Sa Huỳnh, có Bảo vật Quốc gia "bộ sưu tập bình gốm Long Thạnh".
- Hậu Xá – Tam Thai (Quảng Nam): tiền cảng thị, tìm thấy tiền đồng Tây Hán.
- Gò Mả Vôi (Quảng Nam).
- Bãi Cọi (Hà Tĩnh): giao thoa Sa Huỳnh / Đông Sơn.
Đặc trưng vật chất
Rèn sắt là trung tâm: rìu, cuốc, dao, giáo, kiếm sắt. Trang sức đặc trưng gồm khuyên tai hai đầu thú (đá ngọc/thuỷ tinh, biểu tượng độc bản), khuyên tai ba–bốn mấu, hạt chuỗi đá bán quý. Tự chế thuỷ tinh (pha silicat với chì, kéo sợi làm hạt chuỗi). Gốm miết bóng tô thổ hoàng, ánh xám chì.
Táng thức
Mộ chum gốm chôn đứng (cao 0,6–1,5 m), ba hình thức: hoả táng, cải táng, táng tượng trưng (cho người mất tích trên biển).
Kinh tế và xã hội
Nông–lâm–ngư kết hợp. Cư dân Tiền Mã Lai–Đa Đảo (Nam Đảo); liên minh bộ lạc do thủ lĩnh quân sự/hàng hải đứng đầu. Khuyên tai Sa Huỳnh tìm thấy tới vịnh Thái Lan, Mã Lai, Philippines — mạng lưới mậu dịch biển 2000 năm trước.
Nơi trưng bày
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Điêu khắc Chăm (Đà Nẵng), Bảo tàng Quảng Ngãi, Nhà trưng bày Văn hoá Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bảo tàng Sa Huỳnh–Champa (Quảng Nam).
Chú thích địa danh
Tên đơn vị hành chính cấp huyện/xã tại các di chỉ có thể đã thay đổi sau đợt sáp nhập hành chính 2025.

