Văn hoá Đông Sơn

Nguồn tham khảo
- Viện Khảo cổ học
- Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Robert von Heine-Geldern (1934)
Văn hoá Đông Sơn thuộc sơ kỳ Đồ sắt, khoảng thế kỷ VII–VI TCN đến thế kỷ I–II SCN. Phát hiện năm 1924 (Louis Pajot, làng Đông Sơn ven sông Mã, Thanh Hoá). Tên "văn hoá Đông Sơn" do nhà khảo cổ Áo Robert von Heine-Geldern đặt năm 1934. Đây là bằng chứng khảo cổ cho nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.
Ba giai đoạn
- Sớm (thế kỷ VII–VI TCN): chuyển tiếp từ Gò Mun.
- Rực rỡ (thế kỷ V–II TCN): ứng với thời Văn Lang – Âu Lạc; trống đồng lớn xuất hiện.
- Muộn (thế kỷ I TCN – I/II SCN): giao lưu với Hán, đồ sắt phát triển.
Địa bàn
Châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Các di chỉ tiêu biểu:
- Đông Sơn (Thanh Hoá): nghĩa địa mộ táng đồ sộ.
- Việt Khê (Hải Phòng): mộ thuyền M1 với 107 hiện vật đồng, Bảo vật Quốc gia.
- Làng Vạc (Nghệ An): 347 ngôi mộ, tượng voi đồng.
- Cổ Loa (Hà Nội): kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc, trung tâm nhà nước Âu Lạc.
Đặc trưng vật chất
Đúc đồng thau đạt đỉnh cao: lưỡi cày hình cánh bướm, rìu xéo, dao găm cán hình người, trống đồng, thạp đồng (Thạp Đào Thịnh có tượng phồn thực). Vũ khí đồng gồm mũi tên ba cạnh, giáo lá mía. Đồ sắt xuất hiện dần (rìu, kiếm sắt chuôi đồng). Gốm nung cứng 800–900°C.
Táng thức
Mộ thuyền (thân cây khoét rỗng, vùng trũng ven biển), mộ huyệt đất (vùng cao), mộ chum trẻ em.
Kinh tế và xã hội
Nông nghiệp lúa nước thâm canh nhờ cày đồng và trâu bò. Phân hoá giai cấp rõ: mộ thuyền quý tộc khác mộ đất thường dân. Tầng lớp Lạc vương – Lạc hầu – Lạc tướng.
Giao lưu
Giao lưu với văn hoá Điền (Vân Nam), văn hoá Sa Huỳnh (qua di chỉ Bãi Cọi), và lan trống đồng tới Indonesia, Malaysia, Thái Lan.
Nơi trưng bày
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá, Bảo tàng Nghệ An; một số bảo vật ở Bảo tàng Guimet (Pháp).
Chú thích địa danh
Tên đơn vị hành chính cấp huyện/xã tại các di chỉ có thể đã thay đổi sau đợt sáp nhập hành chính 2025.

