
Tranh minh họa, không phải chân dung hay tư liệu lịch sử
Lễ hội theo ngày âm
Lễ hội truyền thống các vùng miền xếp theo tháng âm lịch; cuối cùng là các lễ hội và tục lệ không cố định ngày.
Lễ hội tháng Giêng
Lễ hộiLễ hội Cầu ngư Sa Huỳnh
Mùng 3 Tết
Bắt nguồn từ tập quán tôn kính thần Biển của cư dân duyên hải miền Trung từ thời khai hoang lập ấp. Lễ hội mang ý nghĩa cầu mong một mùa vươn khơi thuận buồm xuôi gió, khoang thuyền đầy tôm cá. Đây là nghi lễ tâm linh tối quan trọng mở đầu chu kỳ khai thác đánh bắt mới của cộng đồng làng chài.
Lễ hộiLễ hội làng Đồng Kỵ (Hội rước pháo Đồng Kỵ)
4–6 tháng Giêng, chính hội mùng 4
Lễ hội tái hiện sự tích Thiên Cương Đế Thịnh phát lệnh xuất quân dẹp giặc Xích Quỷ bằng hiệu lệnh pháo. Sau chỉ thị cấm pháo năm 1995, dân làng chuyển sang rước mô hình pháo gỗ chạm khắc, sơn son thếp vàng. Lễ hội gắn với tinh thần thượng võ, sự gắn kết trong làng và lời cầu may mắn đầu năm.
Lễ hộiLễ hội Gò Đống Đa (Hội Đống Đa)
Mùng 5 tháng Giêng
Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu (1789), khi quân Tây Sơn đánh bại khoảng 29 vạn quân Thanh. Lễ hội nhắc lại chiến thắng, cách đánh thần tốc và sự đoàn kết của nhân dân thời đó.
Lễ hộiLễ hội Tịch điền Đọi Sơn
5–7 tháng Giêng, chính hội mùng 7
Phục dựng tập tục vua Lê Đại Hành đích thân xuống đồng cày ruộng tịch điền đầu xuân Đinh Hợi (987) nhằm khuyến nông. Lễ hội nhấn mạnh vai trò thiết yếu của nông nghiệp lúa nước đối với an ninh lương thực quốc gia. Sự kiện nhắc nhở đạo lý quý trọng đất đai và công sức lao động cần cù của người nông dân.
Lễ hộiLễ hội Tiên Công (Hội rước người)
5–7 tháng Giêng, chính hội mùng 7
Lễ hội nhớ các bậc tiền bối thế kỷ XV đắp đê lấn biển, biến bãi bồi cửa sông Bạch Đằng thành đồng bằng canh tác. Nét riêng của lễ hội là tục "rước người": gia đình rước các cụ thọ 80, 90, 100 tuổi lên miếu lễ tổ tiên. Lễ hội gắn với đạo hiếu, truyền thống kính lão và sự liên kết dòng tộc, xóm làng.
Lễ hộiHội Gióng đền Sóc (Hội đền Sóc)
6–8 tháng Giêng, chính hội mùng 6
Lễ hội tưởng niệm Thánh Gióng, nhân vật thần thoại đánh giặc Ân. Đỉnh núi Sóc được tin là nơi Thánh Gióng cởi áo giáp sắt bay về trời sau khi dẹp xong giặc. Nội dung lễ hội gắn với lòng yêu nước, tinh thần thượng võ và lời cầu mưa thuận gió hòa cho mùa màng.
Lễ hộiLễ hội Chùa Hương (Hội Chùa Hương)
Khai hội mùng 6 tháng Giêng, mùa hội kéo dài đến khoảng cuối tháng Ba
Lễ hội khởi phát từ thế kỷ XVII tại vùng danh thắng hang động Hương Sơn. Đây là cuộc hành hương Phật giáo kết hợp tín ngưỡng thờ Mẫu, thuộc loại có quy mô lớn ở Bắc Bộ. Lễ hội hướng tới sự lương thiện, lòng từ bi và ý thức tôn trọng thiên nhiên.
Lễ hộiLễ hội Cổ Loa
Mùng 6 tháng Giêng
Lễ hội tưởng nhớ An Dương Vương, người dựng nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa hình xoắn ốc. Các làng quanh vùng rước kiệu về Đền Thượng dâng lễ. Lễ hội gắn với di tích thành cổ, nơi lưu dấu truyền thuyết nỏ thần và Mỵ Châu – Trọng Thủy.
Lễ hộiChợ Viềng
Đêm mùng 7 rạng sáng mùng 8 tháng Giêng
Phiên chợ đầu xuân họp mỗi năm một lần, nổi tiếng với tục "mua may bán rủi". Người đi chợ không nặng mặc cả, thường mua đồ sắt, cây cảnh, đồ dùng nhỏ để lấy may cho cả năm. Chợ Viềng Phủ nằm gần quần thể Phủ Dầy thờ Mẫu Liễu Hạnh.
- Lễ hội
Lễ hội Lồng Tồng ATK Định Hóa
Khoảng 9–10 tháng Giêng (theo năm 2026)
Là lễ hội xuống đồng mở đầu mùa cày cấy mới quan trọng nhất của đồng bào dân tộc Tày vùng Việt Bắc. Lễ hội mang ý nghĩa tạ ơn trời đất sau mùa đông giá rét, cầu cho mưa gió thuận hòa, ngô lúa trĩu bắp và bản làng no ấm. Đây là sinh hoạt gắn kết tính cố kết cộng đồng sâu sắc của các dân tộc miền núi phía Bắc.
Lễ hộiLễ hội Đại Kỳ Phước đình Cốc
10–11 tháng Giêng
Là lễ hội tạ ơn cuối năm lớn nhất của nhân dân vùng đảo Hà Nam sau khi hoàn tất các vụ lúa trong năm. Dân làng làm lễ tạ ơn trời đất đã che chở cho đê biển bình yên qua mùa đông gió bão và chuẩn bị đón năm mới ấm no. Lễ hội thể hiện tính cộng đồng keo sơn và tinh thần tương trợ giữa các xóm ngõ.
Lễ hộiLễ hội Yên Tử (Hội xuân Yên Tử)
Khai hội mùng 10 tháng Giêng, kéo dài hết tháng Ba
Lễ hội gắn với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần. Nội dung lễ hội nhắc tới tư tưởng nhập thế, sự gắn bó giữa con người với núi Yên Tử và đạo lý tri ân tiền nhân.
Lễ hộiLễ hội Trò Trám (Hội Trò Trám Tứ Xã)
11–12 tháng Giêng, lễ Mật đêm 11 rạng 12
Lễ hội cổ của vùng Đất Tổ, còn giữ dấu vết tục thờ sinh thực khí nguyên thủy. Lễ hội thể hiện ước vọng sinh sôi của con người và cây trồng. Các trò diễn mô phỏng những nghề sản xuất của cư dân nông nghiệp lúa nước.
Lễ hộiLễ Khai ấn Đền Trần
Mở hội 11–16 tháng Giêng; khai ấn đêm 14 rạng 15
Tái hiện tập tục khai ấn tế tự đầu xuân của vương triều Trần để nhắc nhở bổn phận phụng sự giang sơn, bách tính. Lễ hội giáo dục truyền thống yêu nước "Hào khí Đông A", củng cố tinh thần trách nhiệm xã hội và đoàn kết muôn dân. Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân cả nước về chiêm bái đất cội nguồn tôn thất.
Lễ hộiHội Lim (Lễ hội Lim)
12–13 tháng Giêng, chính hội 13
Lễ hội bắt nguồn từ hội chùa và hội ca của tổng Nội Duệ, được Quận công Nguyễn Đình Diễn mở rộng quy mô từ thế kỷ XVIII. Hội Lim là nơi bảo tồn và truyền dạy dân ca Quan họ Kinh Bắc, với sự tham gia của các làng quan họ kết chạ.
Lễ hộiLễ hội Đền Bà Chúa Kho
Khai hội 12 tháng Giêng (ngày giỗ Bà), đi lễ suốt tháng Giêng
Gắn liền với chiến lũy sông Cầu trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1077 do Lý Thường Kiệt lãnh đạo. Người dân tri ân vị nữ kiệt đã tận tụy coi sóc kho lương và phát chẩn cứu tế cho đồng bào vượt qua cơ hàn. Phong tục "vay vốn cầu tài" thể hiện niềm tin tinh thần về sự may mắn, thuận buồm xuôi gió trong kinh doanh đầu năm mới.
Lễ hộiLễ hội Đền Thượng (Lào Cai)
13–15 tháng Giêng, chính hội rằm
Lễ hội gắn với việc Hưng Đạo Đại vương lập tiền đồn giữ vùng biên ải phía Bắc trong kháng chiến chống Nguyên Mông. Lễ hội thể hiện truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" và ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Đây cũng là dịp gắn kết các dân tộc vùng cao.
Lễ hộiLễ hội Đền Trần Thương
14–15 tháng Giêng (lễ phát lương); giỗ Đức Thánh Trần 18–20 tháng Tám
Đền tọa lạc tại nơi Hưng Đạo Vương đặt 6 kho lương dự trữ phục vụ kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ hai (1285). Lễ hội nhắc tới tài năng hậu cần quân sự và bài học tích trữ lương thực phòng thủ của người xưa, gắn với ý thức bảo đảm an ninh lương thực và chủ động phòng ngừa khó khăn.
Lễ hộiLễ hội Đền Và (Hội Đông Cung)
Hội xuân quanh rằm tháng Giêng (chính hội 15); hội thu 15 tháng Chín; đại lễ rước qua sông vào năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu
Lễ hội tưởng nhớ công đức Đức Thánh Tản Viên trong việc khai hoang, dạy dân trồng trọt và lãnh đạo nhân dân trị thủy sông Hồng. Đây là lễ hội chung của các làng hai bên tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng (Hà Nội và Vĩnh Phúc), gắn với ước vọng chống lũ lụt và đoàn kết liên làng.
Lễ hộiLễ hội Côn Sơn (mùa xuân)
Khai hội giữa tháng Giêng (khoảng 16–23)
Lễ hội tưởng niệm ngày viên tịch của Thiền sư Huyền Quang (ngày 23 tháng Giêng) tại chùa Côn Sơn. Lễ hội kết hợp tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm với các giá trị văn hóa, triết học gắn với danh nhân Nguyễn Trãi, và gắn với cảnh quan núi non nơi đây.
Lễ hộiLễ hội Đền Kỳ Cùng - Tả Phủ
Rước đi 22, rước về 27 tháng Giêng
Bắt nguồn từ truyền thuyết hóa giải oan khiên cho Quan Tuần Tranh và tri ân công đức Tả Đô đốc Thân Công Tài mở mang phố chợ Kỳ Lừa. Lễ hội gửi gắm thông điệp hòa giải nghĩa tình, thúc đẩy giao thương buôn bán sầm uất nơi cửa ngõ biên cương. Đây là ngày hội xuân có quy mô lớn và nhộn nhịp nhất của đồng bào xứ Lạng.
Lễ hội tháng Hai
Lễ hộiLễ hội Đền Cửa Ông (mùa xuân)
1–4 tháng Hai
Lễ hội nhớ công lao của tướng Trần Quốc Tảng trong việc giữ vùng biển Đông Bắc thế kỷ XIII. Lễ hội nhắc tới chủ quyền biển đảo và tinh thần yêu nước, gắn với cộng đồng thợ mỏ và dân vùng duyên hải. Đền nằm trên đồi cao nhìn ra vịnh Bái Tử Long.
Lễ hộiLễ hội Nữ tướng Lê Chân
7–9 tháng Hai, chính hội mùng 8
Lễ hội tưởng nhớ công đức Nữ tướng Lê Chân, người khai hoang lập trang An Biên xưa (nay thuộc Hải Phòng) và tham gia đánh giặc. Lễ hội gắn với lòng tự hào về cội nguồn miền cửa biển và hình tượng người phụ nữ Việt Nam; đây là biểu tượng văn hóa cội nguồn của người dân thành phố cảng.
Lễ hộiLễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung
10–12 tháng Hai
Lễ hội tưởng nhớ Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng Việt. Câu chuyện chàng trai nghèo bên sông Hồng kết duyên cùng công chúa được xem là biểu tượng của tình yêu tự do và nếp sống gắn với sông nước, buôn bán. Lễ hội được tổ chức ở cả hai đền, lễ lớn cấp tỉnh ba năm một lần.
Lễ hộiLễ hội Dinh Cô (Long Hải)
10–12 tháng Hai, chính hội 12
Hình thành từ thế kỷ XIX khi thi hài một cô gái trẻ trôi dạt vào bãi biển được ngư dân an táng chu đáo và lập dinh thờ phụng. Tín ngưỡng này đại diện cho sự giao thoa sâu sắc giữa tục thờ Mẫu truyền thống với thần biển Nam Bộ. Lễ hội biểu thị niềm tin tâm linh vào sự che chở của Nữ thần cho ngư dân bình an trước sóng dữ.
Lễ hộiLễ hội Đền Cuông
Khoảng 12–16 tháng Hai
Lễ hội tưởng nhớ Vua An Dương Vương, người theo truyền thuyết xây thành Cổ Loa, chế nỏ thần giữ nước và tự vẫn tại chân núi Mộ Dạ. Lễ hội gợi bài học về tinh thần cảnh giác giữ nước và đạo lý tri ân tiền nhân. Đền nằm giữa rừng thông, hướng ra biển Đông.
Lễ hộiLễ hội Nghinh Ông Sông Đốc
14–16 tháng Hai, chính hội rằm
Tồn tại gần một thế kỷ tại vùng biển Tây Cà Mau, gắn liền với tín ngưỡng tôn kính loài cá voi hộ mệnh cho người đi biển. Lễ hội mang ý nghĩa tạ ơn biển cả, cầu mong mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng và một mùa khai thác tôm cá bội thu. Đây là biểu tượng sinh động của sự thích ứng văn hóa và cố kết cộng đồng vạn chài phương Nam.
Lễ hộiLễ hội Tây Thiên
Khai hội rằm tháng Hai
Lễ hội nhớ công đức Quốc mẫu Tây Thiên, người theo truyền thuyết phò Vua Hùng dẹp giặc, mở mang bờ cõi và dạy dân trồng lúa nước, dệt tơ lụa. Quần thể kết hợp tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa với trung tâm Phật giáo cổ. Lễ hội thể hiện đạo lý nhớ ơn nguồn cội và sự hòa hợp với thiên nhiên.
Lễ hộiLễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn
17–19 tháng Hai, chính hội 19
Lễ hội khởi phát từ năm 1957, nhân ngày khánh thành tôn tượng Quan Âm trong động Hoa Nghiêm thuộc danh thắng Ngũ Hành Sơn. Lễ hội kết hợp sinh hoạt Phật giáo với các giá trị văn hóa dân gian bản địa, hướng tới lòng từ bi, sự hướng thiện và lời cầu quốc thái dân an, thế giới hòa bình.
Lễ hộiLễ hội Đền Bà Triệu
Khoảng 21–24 tháng Hai, chính hội 22 (ngày giỗ Bà)
Lễ hội tưởng niệm cuộc khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ Đông Ngô năm 248. Lễ hội nhắc tới tinh thần yêu nước và hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong việc giữ gìn đất nước, gắn với quê hương xứ Thanh.
Lễ hội tháng Ba
Lễ hộiGiỗ Tổ Hùng Vương (Lễ hội Đền Hùng)
1–10 tháng Ba, chính hội mùng 10
Lễ hội bắt nguồn từ truyền thống nhớ ơn tổ tiên thời cổ, nay là ngày Quốc giỗ chung của cả nước. Lễ hội củng cố ý thức cội nguồn "đồng bào" sinh ra từ bọc trăm trứng và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đồng thời gắn với lòng tự tôn và ý chí độc lập.
Lễ hộiLễ hội Phủ Dầy (Hội Phủ Dầy)
3–10 tháng Ba, chính hội mùng 3
Lễ hội tưởng niệm ngày mất của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, hình tượng gắn với lòng nhân ái, sự che chở và khát vọng tự do của người phụ nữ. Đây là trung tâm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, gửi gắm lời cầu tài lộc và bình an gia đạo. Lễ hội có nhiều hình thức diễn xướng dân gian, kết nối cộng đồng cư dân châu thổ.
Lễ hộiLễ hội Chùa Thầy
5–7 tháng Ba, chính hội mùng 7
Lễ hội tưởng niệm ngày viên tịch và hóa thân của Thiền sư Từ Đạo Hạnh tại vùng núi Sài Sơn. Lễ hội kết hợp Phật giáo Mật tông với tín ngưỡng nông nghiệp dân gian thờ thần núi sông. Lễ hội còn gắn với nghệ thuật rối nước và lòng tự hào của người xứ Đoài.
Lễ hộiLễ hội Chùa Tây Phương
Khai hội mùng 6 tháng Ba
Lễ hội gắn với nghệ thuật điêu khắc gỗ Phật giáo cổ truyền thời Tây Sơn ở chùa Tây Phương. Lễ hội mang ý nghĩa hướng thiện và chiêm bái hệ thống tượng cổ. Quần thể chùa trên đồi Câu Lậu là nơi hội tụ phật tử và du khách các nơi.
Lễ hộiLễ hội Cố đô Hoa Lư (Hội Trường Yên)
8–10 tháng Ba
Lễ hội tưởng nhớ Đinh Tiên Hoàng, người dẹp loạn 12 sứ quân và lập nhà nước Đại Cồ Việt năm 968, cùng Vua Lê Đại Hành giữ yên bờ cõi. Lễ hội nhắc tới truyền thống độc lập, tự chủ, xây dựng nhà nước quân chủ và đạo lý nhớ ơn người khai nghiệp.
Lễ hộiLễ hội Bơi Đăm
9–11 tháng Ba
Tưởng nhớ công tích của Đào Trường lãnh đạo thủy binh bảo vệ giang sơn bờ cõi thời dựng nước Văn Lang. Tục bơi thuyền đăm thao diễn chiến thuật quân thủy mang tính tập thể cao độ trên dòng sông Pheo cổ. Lễ hội biểu thị tinh thần thượng võ, sự bền bỉ dẻo dai và tính đoàn kết cộng đồng ven đô.
Lễ hộiLễ hội Đền Đô (Hội Đền Lý Bát Đế)
14–16 tháng Ba, chính hội rằm
Lễ hội kỷ niệm ngày Vua Lý Thái Tổ lên ngôi lập nên triều Lý và ban Chiếu dời đô về Thăng Long năm 1010. Lễ hội nhắc tới truyền thống văn hiến, tinh thần độc lập tự cường và lòng biết ơn các vị vua có công xây nền thịnh trị.
Lễ hộiLễ hội Kỳ yên ở đình Gia Lộc
14–16 tháng Ba
Lễ hội nhớ công lao của quan Cai đội Đặng Văn Trước, người chiêu dân lập ấp, mở mang đất đai và bảo vệ xóm làng thế kỷ XIX. Lễ Kỳ yên thể hiện đạo lý tri ân tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ và tính cố kết cộng đồng Nam Bộ. Lễ hội gửi gắm ước mong mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi và xóm giềng yên vui.
Lễ hộiLễ khao lề thế lính Hoàng Sa
15–16 tháng Ba (các dòng họ có thể làm từ tháng Hai)
Nghi lễ ra đời từ thế kỷ XVII, khi triều đình cử dân binh Lý Sơn đi thuyền câu ra Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc chủ quyền và đo đạc hải trình. Nhiều người đã hy sinh giữa bão biển; các tộc họ làm lễ tế thế lính bằng hình nhân bột gạo để cầu bình an và tạ ơn người đã mất. Nghi lễ gắn với chủ quyền lãnh hải lịch sử của Việt Nam trên Biển Đông.
Lễ hộiLễ hội Tháp Bà Ponagar Nha Trang
20–23 tháng Ba, chính hội 23
Lễ hội nhớ Nữ thần theo tín ngưỡng đã tạo ra đất đai, giống lúa, cây thuốc và dạy dân cày cấy, dệt vải. Lễ hội phản ánh sự giao lưu và dung hợp tín ngưỡng giữa người Việt và người Chăm ở Nam Trung Bộ, thể hiện lòng biết ơn Mẹ Xứ Sở che chở cuộc sống no ấm.
Lễ hội tháng Tư
Lễ hộiLễ hội Phài Lừa
Mùng 4 tháng Tư, 3 năm một lần (năm nhuận)
Tương truyền chàng Rắn dũng cảm đền đáp công ơn cha mẹ nuôi bằng cách trừ loài thủy quái phá hoại mùa màng ven sông. Cứ mỗi ba năm vào năm nhuận, đồng bào Tày - Nùng lại mở hội đua bè mảng (Phài Lừa) cầu cho nước nguồn thuận lợi và mùa màng tươi tốt. Lễ hội rèn luyện lòng dũng cảm, sự khéo léo bơi lội và cố kết xóm bản.
Lễ hộiHội Gióng đền Phù Đổng
6–9 tháng Tư, chính hội mùng 9
Lễ hội tái hiện một cách tượng trưng trận đánh đuổi giặc Ân của Thánh Gióng, người anh hùng làng Gióng. Lễ hội thể hiện tinh thần yêu nước, sự khoan dung với quân địch và khát vọng thái bình. Nghi lễ được tổ chức chặt chẽ, mang bản sắc văn hóa lúa nước vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Lễ hộiLễ hội Chùa Dâu
Mùng 8 tháng Tư
Khởi nguồn từ trung tâm Phật giáo Luy Lâu cổ kính thế kỷ thứ II, nơi đạo Phật kết hợp với tín ngưỡng Thần Nông nghiệp bản địa. Lễ hội biểu thị mong ước mưa thuận gió hòa, cầu cho sấm mưa đúng thời vụ để mùa màng trĩu hạt. Đây là minh chứng tiêu biểu cho quá trình bản địa hóa và hòa nhập tôn giáo của người Việt.
Lễ hộiLễ hội Đình Bình Thủy (Kỳ yên Thượng điền)
12–15 tháng Tư
Đình được lập từ giữa thế kỷ XIX; vua Tự Đức ban sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng năm Nhâm Tý (1852). Lễ Thượng điền là lễ hội nông nghiệp tạ ơn thần linh phù hộ cho vụ xuống giống bình yên. Lễ hội cũng nhớ công lao khai hoang mở đất và củng cố nghĩa tình láng giềng miền sông nước.
Lễ hộiLễ hội Vật cầu nước làng Vân
12–14 tháng Tư, 4 năm một lần
Lễ hội khởi nguồn từ sự tích hai vị tướng dẹp loài thủy quái quấy nhiễu xóm làng ven sông Như Nguyệt. Trò tranh quả cầu gỗ trên bãi bùn tượng trưng cho sự vận hành của mặt trời, cầu âm dương hòa hợp và mùa vụ tốt. Lễ hội đề cao sức khỏe, sự bền bỉ và tinh thần gắn bó của trai làng ven sông.
Lễ hộiLễ Phật Đản
Rằm tháng Tư (miền Bắc xưa làm mùng 8 tháng Tư)
Lễ hội tôn giáo cổ truyền du nhập vào Việt Nam suốt hai nghìn năm và trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh dân tộc. Sự kiện hướng tâm thức con người đến tư tưởng từ bi, trí tuệ, bình đẳng và hòa hợp xã hội. Lễ hội lan tỏa thông điệp yêu thương, bảo vệ sinh thái và tinh thần nhân ái bác ái.
Lễ hộiLễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
22–27 tháng Tư, chính hội đêm 23 rạng 24
Lễ hội hình thành đầu thế kỷ XIX, khi pho tượng cổ được cung thỉnh từ đỉnh núi Sam xuống lập miếu thờ. Đây là trung tâm thực hành tín ngưỡng Mẫu lớn ở phương Nam, có sự tham gia của các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Lễ hội thể hiện lòng tri ân vị thần nữ che chở cuộc sống nơi biên giới.
Lễ hội tháng Năm
Lễ hộiLễ Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu (Núi Bà Đen)
4–6 tháng Năm, chính hội mùng 5
Gắn liền với truyền thuyết người thiếu nữ kiên trinh tuẫn tiết, hiển linh phù trợ đồng bào khai hoang bình an vùng biên giới. Lễ vía là trung tâm sinh hoạt tâm linh lớn của nhân dân Nam Bộ, thể hiện sự che chở của người Mẹ Xứ Sở. Sự kiện mang ý nghĩa ước mong cuộc sống gia đình ấm no, mùa màng trĩu hạt và xã hội bình an.
- Lễ hội
Lễ hội Tết Đoan Ngọ (Tết giết sâu bọ)
Mùng 5 tháng Năm (giờ Ngọ)
Tiết Đoan Ngọ đánh dấu thời điểm dương khí cực thịnh trong chu kỳ chuyển động của mặt trời. Dân gian coi đây là thời khắc thuận lợi để tẩy trừ côn trùng gây hại cho cây trồng và bài trừ khí độc cơ thể. Lễ hội mang ý nghĩa sum họp gia đình, bảo tồn tri thức dùng thảo dược dân gian và hướng đạo tri ân nguồn cội.
Lễ hộiLễ hội Cúng biển Mỹ Long
10–12 tháng Năm
Duy trì gần hai thế kỷ tại vùng biển Trà Vinh, khởi phát từ niềm tin ơn thần biển che chở cho ghe thuyền bình yên trước dông tố. Lễ cúng biển thắt chặt tình đoàn kết lương duyên giữa ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa gắn bó ven bờ. Sự kiện mang ý nghĩa tạ ơn đại dương và cầu mong mưa thuận gió hòa, biển dồi dào sản vật.
Lễ hộiLễ hội Bánh chưng - Bánh giầy Sầm Sơn
12 tháng Năm
Lễ hội xuất phát từ kỳ tế Đảo Vũ (cầu mưa giải hạn) cổ truyền của cư dân làng biển, dâng lên thần Độc Cước hộ quốc an dân. Lễ hội kết hợp yếu tố nông nghiệp lúa nước với tín ngưỡng của cộng đồng người đi biển, thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa.
Lễ hộiLễ hội Đình Chèm
14–16 tháng Năm, chính hội rằm
Lễ hội nhớ danh tướng Lý Ông Trọng thời Vua Hùng thứ 18 và An Dương Vương, người theo truyền thuyết giúp trừ giặc phương Bắc, bảo vệ bờ cõi. Lễ hội còn giữ nhiều nghi lễ cổ bên bờ sông Hồng, gắn với đạo lý uống nước nhớ nguồn và niềm tự hào dân tộc.
Lễ hộiLễ hội Đình Trà Cổ
30 tháng Năm đến mùng 6 tháng Sáu, chính hội mùng 1 tháng Sáu
Lễ hội tái hiện sự tích các bậc tiền hiền vượt biển từ Đồ Sơn ra khai hoang vùng cửa biển Đông Bắc, được nhắc trong câu "Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn". Lễ hội gắn với ký ức khai phá vùng biên giới biển và ý chí bám biển giữ làng của người dân nơi cực Đông Bắc.
Lễ hội tháng Sáu
Lễ hộiLễ hội Xuống đồng đảo Hà Nam (Đình Cốc)
5–6 tháng Sáu
Diễn ra vào dịp cấy lúa vụ mùa hàng năm trên vùng bãi bồi đê biển đảo Hà Nam. Lễ hội mang ý nghĩa tạ ơn trời đất đã che chở cho hệ thống đê điều vững chắc, cầu mong mưa gió thuận hòa, mùa màng trĩu hạt. Đây là ngày hội lao động sôi nổi, gắn bó tình làng nghĩa xóm của người nông dân lấn biển.
Lễ hộiLễ hội Xa Mã – Rước kiệu đình Hoàng Châu
9–12 tháng Sáu
Lễ hội tái hiện chiến công của quân dân An Đồng - Hoàng Châu chặn thủy binh Nguyên Mông năm 1288. Hình tượng ngựa gỗ trắng hồng biểu trưng cho lòng dũng cảm, sự mưu trí và tinh thần yêu nước của người dân miền đảo. Lễ hội cũng gắn với sự đoàn kết của xóm chài.
Lễ hộiLễ hội Quan Lạn
10–20 tháng Sáu, chính hội 18
Lễ hội tái hiện chiến thắng đánh chìm đoàn thuyền lương của quân Nguyên Mông trên sông Mang năm 1288. Lễ hội nhắc tới hào khí Đông A và chủ quyền vùng biển đảo. Tục "Khóa làng" thể hiện tính kỷ luật và sự đoàn kết của người dân xã đảo.
Lễ hộiLễ hội đền Yên Lương (Phúc Lục Ngoạt)
Rằm tháng Sáu, hằng năm
Là lễ hội tạ ơn phúc ấm giữa năm (tháng Sáu âm lịch) của ngư dân vùng cửa biển Cửa Lò. Sự kiện gắn kết cộng đồng ngư dân, biểu thị lòng biết ơn các vị thần linh đã che chở cho đoàn thuyền vượt qua mùa bão gió miền Trung an toàn. Lễ hội mang đậm sắc màu tín ngưỡng dân gian của cư dân duyên hải xứ Nghệ.
Lễ hộiLễ hội đền Lảnh Giang (Kỳ 1)
18–25 tháng Sáu (kỳ hai 18–25 tháng Tám)
Theo truyền thuyết, ba vị tướng phò Vua Hùng dẹp giặc và gắn với chuyện tình Tiên Dung - Chử Đồng Tử. Lễ hội thể hiện tín ngưỡng thờ nguồn nước, cầu trị thủy đê điều vững và mùa vụ no ấm. Đây cũng là nơi diễn ra hầu đồng, hát Chầu văn vùng châu thổ sông Hồng.
Lễ hội tháng Bảy
Lễ hộiLễ hội Điện Huệ Nam (kỳ thu)
Kỳ thu khoảng 8–10 tháng Bảy (có kỳ xuân tháng Ba)
Lễ hội gắn với sự dung hợp giữa tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Chăm và Đạo Mẫu Tam Phủ của người Việt xứ Đàng Trong. Lễ hội mang ý nghĩa tri ân Mẹ Xứ Sở, thể hiện đời sống tâm linh của cố đô Huế, với các màn diễn xướng và đoàn thuyền cờ hoa trên sông Hương.
- Lễ hội
Tết Xíp Xí của người Thái trắng
14 tháng Bảy
Là tết truyền thống quan trọng thứ hai trong năm của đồng bào dân tộc Thái trắng miền Tây Bắc. "Xíp Xí" là ngày mười bốn, đánh dấu kỳ hoàn thành làm cỏ lúa nương, cho trâu nghỉ ngơi và tạ ơn đất trời phù trợ. Lễ hội biểu thị lòng biết ơn với thiên nhiên, vật nuôi và tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa các bản mường.
Lễ hộiLễ Vu Lan – Rằm tháng Bảy
Rằm tháng Bảy
Xuất phát từ tích Mục Kiền Liên cứu mẹ theo kinh Phật giáo dung hợp với phong tục cúng xá tội vong nhân ngày rằm tháng Bảy. Lễ hội nêu cao đạo hiếu làm con đối với cha mẹ sinh thành, tưởng nhớ tổ tiên và cứu giúp các linh hồn phiêu bạt. Đây là biểu tượng của tinh thần từ bi, tình nhân ái và nét đẹp hướng thiện của con người.
Lễ hộiLễ hội Đền Bảo Hà (Giỗ Quan Hoàng Bảy)
16–17 tháng Bảy, chính hội 17
Lễ hội nhớ danh tướng Hoàng Bảy, người theo truyền thuyết chiêu tập nhân dân dẹp giặc cướp phương Bắc, giữ yên vùng biên giới Tây Bắc. Lễ hội gắn với sự đoàn kết các dân tộc Tày, Dao, Mông, Kinh, tinh thần bảo vệ đất nước, và lời cầu công danh, làm ăn thuận lợi, bình an gia đạo.
- Lễ hội
Lễ hội Khu Cù Tê của người La Chí
Trong tháng Bảy (ngày do già làng chọn)
Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của người La Chí sống trên vùng ruộng bậc thang. Lễ hội tạ ơn tổ tiên phù hộ cho lúa ngô, cầu cho gia súc khỏe mạnh, bệnh tật tiêu trừ, đồng thời gắn kết dòng họ và truyền giữ nét văn hóa riêng qua các thế hệ.
Lễ hội tháng Tám
Lễ hộiLễ hội Đền Cửa Ông (mùa thu)
3–20 tháng Tám, kỵ nhật 16
Lễ hội tưởng niệm ngày mất của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, danh tướng giữ bờ cõi phía Đông Bắc. Lễ hội mùa thu tri ân công tích hộ quốc an dân và nhắc ý thức về biển đảo. Đây cũng là nơi sinh hoạt tâm linh của công nhân mỏ than và người dân miền duyên hải.
Lễ hộiLễ hội Chọi trâu Đồ Sơn
Mùng 9 tháng Tám (vòng loại từ tháng Sáu)
Khởi nguồn từ thế kỷ XVIII, gắn với huyền tích thủy thần chọn trâu dũng mãnh để cầu xin sóng yên biển lặng cho đoàn thuyền đánh cá. Lễ hội biểu thị tinh thần thượng võ, sự quả cảm dám đương đầu với bão tố đại dương của người dân miền biển Hải Phòng. Đây là nét văn hóa truyền thống cố kết vạn chài đậm đà bản sắc địa phương.
Lễ hộiLễ hội Nghinh Ông Cần Giờ
14–17 tháng Tám, chính hội 16
Duy trì hơn một thế kỷ, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của ngư dân đối với loài cá voi cứu mạng trên biển. Lễ hội đồng thời tưởng nhớ công lao to lớn của các chiến sĩ đặc công Rừng Sác đã ngã xuống vì Tổ quốc. Đây là dịp tạ ơn đại dương, cầu cho mưa thuận gió hòa và kết nối tình làng nghĩa xóm miền ven biển.
Lễ hộiLễ hội Đền Trần (mùa thu)
Tháng Tám, chính hội 20
Lễ hội diễn ra vào dịp kỵ nhật của Đức Thánh Trần tại vùng đất phát tích của nhà Trần, để ghi nhớ công ơn đánh đuổi quân ngoại xâm. Lễ hội nhắc đạo lý yêu nước, tự cường và xây dựng xã hội hòa mục. Nhân dân các nơi về thắp hương tri ân tiên tổ.
Lễ hộiLễ hội Kiếp Bạc (mùa thu)
Tháng Tám, chính hội 20 (ngày giỗ Trần Hưng Đạo)
Lễ hội tưởng niệm ngày mất của Trần Hưng Đạo (ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý 1300). Lễ hội nhắc tới tài thao lược quân sự và tư tưởng "khoan thư sức dân" làm gốc dựng nước của người xưa, cùng lòng tự hào lịch sử và sự gắn kết non sông.
Lễ hộiTết Trung thu
Rằm tháng Tám
Tết Trung thu vào rằm tháng Tám, khi trăng tròn và sáng nhất năm. Ngày nay đây chủ yếu là Tết của trẻ em với rước đèn, múa lân, phá cỗ trông trăng. Xưa kia người ta còn ngắm trăng để đoán mùa màng.
Lễ hộiLễ hội Nghinh Ông Thắng Tam (Vũng Tàu)
16–18 tháng Tám, chính hội 16
Bắt đầu từ khi xác cá voi khổng lồ trôi dạt vào bãi biển được ngư dân quy tập an táng và xây lăng tôn thờ thời vua Minh Mạng. Lễ hội mang ý nghĩa tạ ơn biển bạc ban tặng tôm cá đầy khoang và cầu cho đoàn thuyền luôn cập bến bình an. Đây là nét đẹp văn hóa tâm linh thắt chặt tình cảm cộng đồng ngư dân thành phố biển.
Lễ hộiLễ hội Lam Kinh
21–23 tháng Tám, chính hội 22
Lễ hội tưởng niệm ngày mất của Vua Lê Thái Tổ và thắng lợi sau 10 năm gian khổ đánh quân Minh, giành lại đất nước. Dân gian lưu truyền câu ca: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi" để ghi nhớ sự hy sinh của tướng sĩ. Lễ hội nhắc tới hào khí Lam Sơn, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc.
Lễ hộiLễ hội Đua bò Bảy Núi
Khoảng 29 tháng Tám đến mùng 1 tháng Chín (dịp Sene Dolta)
Lễ hội xuất phát từ tục cày bừa đất giúp việc chùa của các thanh niên Khmer trước vụ gieo lúa; về sau các đôi bò khỏe được đem ra đua thành hội. Lễ hội thể hiện tinh thần yêu lao động, lòng tri ân vật nuôi gắn bó với đồng ruộng và sự gắn bó của phum sóc. Đây vừa là sinh hoạt thể thao dân tộc, vừa mang bản sắc tâm linh vùng Bảy Núi.
Lễ hội tháng Chín
Lễ hộiLễ hội Trùng Cửu (Nhà Lớn Long Sơn)
8–9 tháng Chín, chính hội mùng 9
Lễ hội nhớ công khai khẩn đất mặn, giữ thuần phong mỹ tục và răn dạy đạo lý "Tứ ân hiếu nghĩa" của Ông Trần cuối thế kỷ XIX. Lễ hội phản ánh lối sống hòa với thiên nhiên, đề cao đạo đức nhân nghĩa, lối sống giản dị và tự lực. Đây là sinh hoạt tín ngưỡng riêng của cư dân thôn đảo.
Lễ hộiLễ hội Chùa Cổ Lễ
13–16 tháng Chín
Lễ hội nhớ công chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông và việc đúc tượng đồng Tứ đại khí của Thiền sư Minh Không. Lễ hội chùa Cổ Lễ thể hiện tinh thần "đạo pháp đồng hành cùng dân tộc" của người dân vùng châu thổ sông Hồng. Chùa có phong cách kiến trúc pha ảnh hưởng phương Tây.
Lễ hộiLễ hội Chùa Keo (mùa thu)
13–15 tháng Chín, chính hội 14
Lễ hội tưởng niệm 100 ngày mất của Thiền sư Dương Không Lộ (ngày 14 tháng Chín). Lễ hội kết hợp Phật giáo với tín ngưỡng dân gian thờ Thánh, gắn với gác chuông gỗ nổi tiếng của chùa Keo. Lễ hội thể hiện ước nguyện mùa màng bội thu, nhân dân bình an và làng nghề thủ công phát triển.
Lễ hộiLễ hội Dinh Thầy Thím
14–16 tháng Chín
Lễ hội nhớ công ơn vợ chồng người đạo sĩ vào rừng Tam Tân chữa bệnh cứu người và đóng thuyền giúp dân nghèo. Lễ hội thể hiện đạo nghĩa tương thân tương ái và lối sống thiện lành của người dân phương Nam. Đây là điểm hành hương lớn gắn với cảnh quan rừng và biển.
Lễ hội tháng Mười
Lễ hộiLễ hội Đền Quan Hoàng Mười
9–10 tháng Mười, chính hội mùng 10
Lễ hội nhớ vị danh tướng có công giúp dân đắp đê ngăn mặn sông Lam, mở làng xóm và giữ yên bờ cõi phía Nam thời Lê. Lễ hội mang ý nghĩa cầu công danh tấn tới, mùa vụ đủ đầy, gia đình hòa thuận và buôn bán thuận lợi. Nhân vật này được nhìn nhận là hình tượng văn võ song toàn trong tâm thức Đạo Mẫu của người Việt.
Lễ hộiLễ hội Ok Om Bok (Lễ Cúng Trăng)
14–15 tháng Mười, chính hội đêm rằm
Lễ hội tổ chức vào đêm trăng tròn tháng Mười, khi khép lại chu kỳ canh tác năm cũ và chuẩn bị gặt lúa mùa. Lễ hội tạ ơn Mặt Trăng đã ban nguồn nước mát và khí hậu thuận lợi, cầu phum sóc bình an, mùa vụ đủ đầy. Đây là sinh hoạt văn hóa nhiều màu sắc của người Khmer Nam Bộ.
- Lễ hội
Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn
16 tháng Mười (sau mùa gặt)
Lễ hội có từ lâu đời trong đời sống tinh thần của người Pà Thẻn ở vùng biên giới cực Bắc. Nghi thức nhảy lửa mang ý nghĩa xua đuổi tai ương, tà khí. Ngọn lửa tượng trưng cho ánh sáng, hơi ấm và lời chúc cho một mùa nương rẫy tốt.
Lễ hội tháng Mười Một
Lễ hộiLễ hội Đền Nguyễn Công Trứ
Khoảng 12–16 tháng Mười Một, chính kỵ 14
Kỷ niệm ngày mất của nhà quân sự, kinh tế và danh sĩ lỗi lạc Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858). Lễ hội tri ân công tích đắp đê khai hoang lấn biển thành lập hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải, mang lại sinh kế ấm no cho nhân dân. Đây là biểu tượng của tinh thần nhập thế dấn thân phụng sự đất nước.
Lễ hộiLễ hội Gò Tháp (tưởng niệm Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều)
14–16 tháng Mười Một (có kỳ Vía Bà 14–16 tháng Ba)
Lễ hội tưởng niệm hai vị lãnh đạo nghĩa quân giương cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp tại căn cứ Đồng Tháp Mười (1862 - 1866). Lễ hội nhắc tới tinh thần yêu nước và ý chí giữ đất của nhân dân miền Nam. Hằng năm có hàng vạn người từ khắp đồng bằng sông Cửu Long về viếng.
Lễ hộiLễ hội Bánh dày đình Lục Giáp
25–29 tháng Mười Một, chính hội 29
Lễ hội có từ lâu đời, gắn với tập quán dâng bánh nông nghiệp tạ ơn Thần hoàng cuối năm. Chiếc bánh dày tròn trắng tượng trưng cho bầu trời che chở, gửi gắm mong ước mùa màng sau đủ đầy. Lễ hội gắn kết tình làng nghĩa xóm và nhắc tới sự cần cù, khéo tay của người nông dân.
Lễ hộiLễ hội Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
27–29 tháng Mười Một, chính hội 28
Lễ hội tưởng niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), nhà trí thức có tầm nhìn chiến lược về hòa bình dân tộc. Lễ hội nhắc tới truyền thống hiếu học, khuyến học của vùng đất học Hải Phòng, và là dịp giáo dục đạo lý nhân nghĩa, trọng tri thức cho thế hệ trẻ.
Lễ hội tháng Chạp
Lễ hộiLễ hội Đình Bình Thủy (Kỳ yên Hạ điền)
14–15 tháng Chạp
Kỳ lễ hội tạ ơn mùa màng thứ hai trong năm tại đình Bình Thủy (sau lễ Thượng điền tháng Tư). Mang ý nghĩa tạ ơn trời đất sau khi hoàn thành chu kỳ mùa vụ, thu hoạch lúa bắp bình an và cầu chúc xóm làng ấm no đón xuân mới. Sự kiện khẳng định sự nối tiếp đạo lý tri ân tiền nhân của người dân miệt vườn sông nước Cần Thơ.
Lễ hộiLễ Tạ cuối năm Đền Bà Chúa Kho
Suốt tháng Chạp, đông nhất 15–25
Tục lệ tạ ơn cuối năm ("trả lễ tâm linh") theo phong tục lâu đời của người Việt sau một năm làm ăn buôn bán. Người dân từ khắp nơi hành hương dâng lễ vật nhằm bày tỏ lòng biết ơn Bà đã phù hộ trong năm cũ và giải tỏa âu lo trước khi bước sang năm mới. Lễ hội thể hiện niềm tin vào sự công bằng, đạo lý có vay có trả và ước vọng thịnh vượng bền vững.
- Lễ hội
Tết Nhảy của người Dao (Nhảng Chầm Đao)
Tháng Chạp, chọn ngày theo từng dòng họ
Bắt nguồn từ truyền thuyết tổ tiên người Dao vượt biển gặp bão lớn, cầu khấn Bàn Vương che chở thoát nạn và nguyện tạ ơn hàng năm. Tết Nhảy là nghi lễ tạ ơn tổ tông, cầu mong con cháu khỏe mạnh, bản làng no ấm và chuẩn bị đón năm mới an khang. Lễ hội phản ánh sinh động quan niệm nhân sinh và tính gắn kết ruột thịt của đồng bào miền núi.
Không cố định ngày
- Lễ hội
Lễ Cấp sắc của người Dao (Tập quán mùa đông)
Từ tháng Mười đến tháng Chạp, chọn ngày theo tuổi
Đây là nghi lễ vòng đời quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của người đàn ông Dao và sự công nhận của cộng đồng. Lễ cấp sắc răn dạy đạo lý hiếu thảo, chính trực, không làm điều ác và có trách nhiệm bảo vệ bản làng. Lễ còn lưu giữ chữ Nôm Dao cổ, bài khấn và tranh thờ.
Lễ hộiLễ hội Aza Koo (Mừng lúa mới Pa Cô - Tà Ôi)
Sau vụ gặt, cuối năm, không cố định ngày
Đây là tết mừng cơm mới quan trọng nhất trong năm của người Pa Cô, Tà Ôi vùng phía tây cố đô Huế. Lễ hội tạ ơn trời đất đã cho lúa đầy bồ, gia đình khỏe mạnh, tránh thú dữ. Lễ hội thể hiện tinh thần sẻ chia và tình gắn bó giữa các dòng họ.
Lễ hộiLễ hội Cầu ngư Khánh Hòa
Đầu mùa biển sau Tết, ngày tùy từng vạn chài
Diễn ra vào dịp rằm tháng Chạp để các vạn chài làm lễ tổng kết mùa biển trong năm và tạ ơn Thần biển đã phù hộ bình an qua một năm sóng gió. Sự kiện biểu thị lòng biết ơn sâu sắc với biển cả và gắn bó keo sơn giữa các ngư dân Nam Trung Bộ. Đây là bước chuẩn bị tâm thế vững vàng cho những chuyến vươn khơi đầu năm mới.
Lễ hộiLễ hội Katê của người Chăm
Mùng 1 tháng 7 lịch Chăm (thường rơi vào tháng 9–10 âm lịch)
Đây là lễ hội cổ truyền lớn nhất trong năm của người Chăm Bàlamôn. Katê là dịp tạ ơn các vị vua đã dạy dân đào mương đắp đập làm ruộng lúa nước và tri ân tổ tiên dòng họ. Lễ hội củng cố tình đoàn kết cộng đồng và trao truyền bản sắc Chăm.
Lễ hộiLễ mừng cơm mới của người Bru - Vân Kiều
Sau vụ gặt lúa rẫy, không cố định ngày
Gắn liền với truyền thống gieo trồng lúa rẫy trên sườn núi Trường Sơn của đồng bào Bru - Vân Kiều. Lễ hội là nghi thức tạ ơn đất trời ban tặng mùa lúa chín vàng, rước hồn lúa về kho và xua đuổi thú rừng phá hại. Sự kiện thắt chặt tình đoàn kết bản làng và giữ gìn tập quán canh tác truyền thống.

